Bài viết

5 con ma (P1)

Cập nhật: 08/12/2018
Sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đã thuyết giảng rất nhiều chân lý như Thập nhị nhân duyên, Tứ diệu đế… Và một trong số đó là chân lý về Ngũ uẩn.
 

5 con ma (P1)

 

Ngũ uẩn là một giáo lý căn bản của Phật giáo. Trong phạm vi bài viết này tôi gọi đó là 5 con ma bởi vì do không nhận thức đúng đắn về sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà chúng sanh phải bị nhiều kiếp trôi lăn trong sanh tử luân hồi.

Trong kinh Tương Ưng Bộ tập 3 có chép rằng:

“Năm uẩn là gánh nặng,

Kẻ gánh nặng là người,

Cần lấy gánh nặng lên,

Chính là khổ ở đời.

Còn bỏ gánh nặng xuống,

Tức là lạc không khổ,

Gánh nặng bỏ xuống xong,

Không mang theo gánh khác.

Nếu nhổ khát ái lên,

Tận cùng đến gốc rễ,

Không còn đói và khát,

Được giải thoát tịnh lạc”.

Bài kệ trên cho thấy ngũ uẩn chính là gánh nặng cũng chính là 5 con ma che lấp bản tâm thanh tịnh của chúng sanh. Khi một người tu hành nhìn rõ được bản chất của ngũ uẩn thì sẽ không còn bị chúng khống chế, đạt được sự thanh tịnh giải thoát. Vị ấy sẽ đắc quả A la hán. Ở đây uẩn có 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất là nhóm, là tích tụ. Nghĩa thứ hai là ngăn che cho nên còn gọi là ngũ ấm. Một ví dụ về sự tích tụ là khi ta lần đầu tiên gặp một người lạ mặt thì cái nhìn của ta rất khách quan. Nhưng qua nhiều lần gặp gỡ cái nhìn khách quan ấy bị ảnh hưởng bởi những ký ức, những kỷ niệm cho nên cái nhìn đó sẽ dễ bị đánh lừa khiến cho dễ có sai lầm, không còn khách quan nữa. Ví dụ khác khi ta cho các bạn học sinh đi ngắm cùng một cảnh đẹp đó là vịnh Hạ Long. Sau đó ta bảo các em vẽ mười bức tranh về cảnh đẹp ở vịnh Hạ Long thì mỗi người sẽ có một bức tranh khác nhau. Họ vẽ dựa theo kinh nghiệm chất chứa trong tâm hồn của họ chứ không thấy sao vẽ vậy như cái máy chụp hình. Sự tích tụ trong ký ức đó gọi chung là uẩn. Theo Phật giáo con người gồm có hai phần: thân và tâm. Phần thân gọi là sắc uẩn. Phần tâm gồm có bốn phần: thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Ngũ uẩn còn được gọi là thủ uẩn nghĩa là năm đối tượng của sự chấp thủ, của tâm tham ái. Vì thế ngũ uẩn chính là nguyên nhân gây ra biết bao nỗi khổ niềm đau mà con người phải gánh chịu trải qua nhiều đời nhiều kiếp. Một khi con người cho ngũ uẩn là ta, là của ta thì khổ đau sẽ xuất hiện ngay lập tức. Khi những suy nghĩ thân xác này là của tôi, những tình cảm này là của tôi, những suy tư này là của tôi, những cảm thọ vui buồn này là của tôi hình thành một bản ngã, một cái tôi độc lập thì từ đó mọi sự tham muốn, sân hận, vị kỷ… sẽ phát sinh để phục vụ cho cái tôi đó. Cái tôi đó chính là nguyên nhân của tất cả mọi tội lỗi. Những khổ đau, buồn phiền, sân hận, sợ hãi và thất vọng sẽ không bao giờ chấm dứt khi cái tôi đó còn hiện hữu.

Con ma thứ nhất là sắc uẩn được tinh cha huyết mẹ tạo thành. Ban đầu chỉ như một giọt máu. Theo thời gian giọt máu đó lớn dần trong bụng mẹ chín tháng mười ngày. Sau khi sinh ra hài nhi được tiếp tục nuôi dưỡng cho nên thân thể ngày càng phát triển. Từ một giọt máu cho đến khi thành hình hài một con người hoàn chỉnh là do ngoại duyên của người mẹ nuôi dưỡng và thức ăn, thức uống ở bên ngoài. Cho nên tất cả sự hấp thụ đó để hình thành sắc thân một con người thì gọi chung là sắc uẩn. Có 4 yếu tố vật chất căn bản hình thành sắc uẩn là đất, nước, gió và lửa. Đất (chất rắn) bao gồm tóc, lông, da, thịt, gân, xương, tim, gan, phèo, phổi… Nước (chất lỏng) gồm có mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước mũi, nước tiểu, dịch ổ khớp… Gió (sự chuyển động của không khí) là hơi thở ra vào đem nguồn dưỡng khí oxy vào trong cơ thể để nuôi tế bào và sau đó mang khí carbonic để thải ra ngoài. Lửa (nhiệt độ) là độ nóng của cơ thể. Thân thể con người muốn tồn tại phải nương vào các duyên bên ngoài như ánh sáng mặt trời, đồ ăn thức uống, không khí, nhà cửa v.v. Vì thế thân tứ đại này là vô thường và vô ngã. Con người bị vô minh che lấp nên không nhìn thấy biết đúng mà cho rằng thân này là của ta. Nếu thân này là của ta thì ta phải làm chủ được nó. Ta bảo nó đừng già, đừng bệnh, đừng chết v.v. nó đâu có nghe. Đức Phật là người đã thực chứng qua các tầng thiền định và thiền tuệ giúp Ngài thấu rõ thân xác này là vô ngã cho nên mọi tham ái chấp thủ về thân đều tiêu diệt. Khổ diệt thì Niết bàn hiển hiện cũng như có ánh sáng thì bóng tối phải lùi xa. Đức Phật đã dạy rằng: “Ai cho rằng sắc uẩn là ta, là của ta, là tự ngã của ta thì chắc chắn gặt hái đau khổ, thất vọng, sầu muộn, vấp ngã và tai nạn”.

Con ma thứ hai là thọ uẩn. Thọ là cảm giác vui hoặc buồn hoặc không vui không buồn cũng còn gọi là lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Cảm thọ xuất hiện do sự tiếp xúc giữa lục căn và lục trần. Lục căn chính là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lục trần chính là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Ví dụ mắt thấy hình sắc thì phát sinh cảm thọ đẹp xấu. Tai nghe âm thanh liền sinh cảm thọ vui buồn. Lưỡi nếm thức ăn liền sinh cảm thọ ngon dở. Thân đụng da mềm liền cảm thọ lưu luyến, khoái cảm hoặc đớn đau. Mũi nghe mùi liền sinh cảm thọ thơm hoặc thối. Nói chung lại tất cả cảm thọ của con người từ thân đến tâm không ra ngoài lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Có những cảm thọ thuộc về quá khứ, những cảm thọ thuộc về hiện tại và những cảm thọ thuộc về tương lai. Tất cả tạo thành một dòng sông cảm thọ tâm lý chi phối tâm thức của chúng ta. Dòng sông cảm thọ này sinh diệt vô chừng. Khi còn trẻ ngũ uẩn hoạt động bình thường nên cảm thọ rất nhạy bén còn khi già nua thì đã khác. Miệng ăn không còn biết ngon, mắt nhìn không còn thấy rõ, tai nghe tiếng được tiếng mất cho nên nói cảm thọ cũng vô thường, vô ngã đâu có gì là chân thật. Bám víu vào những cảm thọ đó sẽ gặt lấy khổ đau. Nói cách khác khi tâm thọ nhận cảm giác liền sinh si mê một là rơi vào trạng thái tham ái, hai là rơi vào trạng thái sân hận bởi vì ta không biết rằng cảm giác đó là do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra nên bản chất của chúng là vô thường, vô ngã và thói thường ta cho rằng cảm giác đó là ta vui, ta buồn. Khi khổ đau hay hạnh phúc sanh ra con người hay đồng hóa mình với những cảm xúc của chính mình cho nên họ bị hành hạ bởi những cảm xúc đó. Đó là nguyên nhân của khổ đau. Tại sao con người thích tiền bạc, danh vọng, địa vị, vợ đẹp, con ngoan? Bởi vì những thứ ấy mang lại cho ta niềm vui và hạnh phúc. Nhưng rất tiếc không có niềm vui và hạnh phúc nào tồn tại mãi mãi với chúng ta. Nó đến rồi ra đi theo quy luật của vô thường vì vậy con người luôn mãi khổ cực để đi tìm hạnh phúc này đến hạnh phúc khác. Phải chăng trong hạnh phúc đã chứa sẵn khổ đau. Ví như viên thuốc bọc đường, khi chất ngọt tan đi thì vị đắng sẽ xuất hiện. Trong bài kinh Chuyển pháp luân đầu tiên Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta con đường Trung đạo nghĩa là tránh xa hai thái cực: tham ái và hạnh phúc là một thái cực, sân hận và đau khổ là một thái cực. Bởi vì cả hai thái cực đó đều đưa chúng ta đến đau khổ, mặt trái của hạnh phúc chính là khổ đau. Con đường Trung đạo là con đường chân chính. Ở đó không có hình bóng của khoái lạc, của khổ đau, của thiện ác tốt xấu bởi vì tất cả đều còn nằm trong ý thức phân biệt nhị nguyên. Và một câu hỏi được đặt ra: khi khổ đau và hạnh phúc vắng mặt thì con người sẽ còn lại gì trong tâm thức? Câu trả lời đó chính là sự an lạc và tự do vĩnh cữu. Khi ta tu Thiền định thì vọng niệm từ từ bị tiêu diệt, ta sẽ sống trong tỉnh thức. Thông thường, những hạnh phúc của con người đều là phù du, giả tạm và lừa phỉnh chẳng khác gì một miếng mồi ngon mắc vào lưỡi câu. Khi đã nuốt miếng mồi mà mình đang thèm muốn thì lưỡi câu kia cũng sẽ mắc vào cổ họng của mình. Cho nên không có hạnh phúc nào trong thế gian mà không hàm chứa trong đó sự đau khổ. Ngược lại sự giác ngộ sẽ đưa đến an lạc, hạnh phúc tối thượng trong tâm hồn tạm gọi là Niết bàn bởi vì trong đó hoàn toàn không còn bóng dáng của tham lam, sân hận và si mê.

Ngũ Uẩn

Tin tức liên quan

THEO BỤT TA ĐƯỢC GÌ?
18/10/2024
NGUYỆN THOÁT KHỎI TAI ƯƠNG
16/09/2024
NGƯỜI TU THẬT – TUYỆT ĐẸP
10/09/2024
CHÙA TO – PHẬT LỚN
03/09/2024
Trên ngực con đượm buồn màu bông trắng…
13/08/2024