5 con ma (P2)

Phật giáo có một phương pháp giảm bớt vọng tưởng và dần dần dẫn đến tiêu diệt vọng tưởng. Đó chính là thiền định và thiền tuệ. Thiền định hay còn gọi là thiền chỉ (samatha) là phương pháp tập trung tâm vào một đối tượng nhất định. Ví dụ như tập trung tâm vào hơi thở, tập trung tâm vào danh hiệu Phật, tập trung tâm vào một bài chú hoặc tập trung tâm vào một bài kinh. Mục đích là để cho vọng tưởng dừng lại, tâm trí không còn suy nghĩ lung tung. Thiền tuệ còn gọi là thiền quán (vipassana) là loại thiền dùng trí tuệ để quan sát mọi sự vật, sự việc theo đúng bản chất của nó là vô thường, bất toại nguyện (khổ) và vô ngã. Thức ăn của thiền quán là như lý tác ý tức là suy nghĩ hành động theo chân lý. Nhờ thiền tuệ mà người tu hành mới có thể bứng sạch gốc rễ và tiêu diệt hết mọi tham, sân, si. Có một câu chuyện rằng một ngày nọ có một vị tu sĩ lên đò để qua sông. Ngặt một điều là cô lái đò rất trẻ trung và xinh đẹp nên vị Thầy này cứ len lén nhìn cô ta. Khi sang bến thay vì trả tiền đò như người khác, cô gái đòi tiền vị Thầy gấp đôi. Vị Thầy ngạc nhiên hỏi: “Tại sao cô lại tính tiền tôi nhiều gấp đôi?”. Cô lái đò trả lời: “Vì Ngài vừa đi đò vừa ngắm nghía tôi nên tôi tính tiền gấp đôi”. Sau khi hoàn thành công việc Phật sự vị Thầy phải trở về bến đò để về chùa nhưng lần này vị Thầy lại nghĩ ra một cách là lấy nón che mặt khi qua sông. Khi đến bến thay vì lấy 1 đồng, cô gái lại đòi 4 đồng. Hơi bực mình, vị Thầy hỏi: “Tại sao cô lại đòi tôi nhiều tiền như vậy?”. Cô lái đò đáp: “Khi qua sông Thầy ngắm nhìn tôi cho nên tôi đòi 2 đồng. Bây giờ khi trở về Thầy không nhìn tôi bằng mắt mà nhìn tôi bằng tâm tưởng nên tôi lấy 4 đồng. Bởi vì cái nhìn của con mắt có giới hạn còn cái nhìn của tâm tưởng thì vô lượng vô biên”. Đây là một câu chuyện có thể là thật, có thể là ngụ ngôn nhưng ẩn chứa bên trong một triết lý rất sâu sắc về tâm tưởng. Tưởng là một nhóm tri giác có khả năng nhận biết đối tượng đó là gì. Đây chính là kinh nghiệm của 6 giác quan khi tiếp xúc với cảnh trần hay nói cách khác là kinh nghiệm khi lục căn tiếp xúc với lục trần. Sự kinh nghiệm nhận biết đối tượng này có hai loại. Một là nhận biết đối tượng bên ngoài như mắt thấy sắc thì nhận biết đó là cái nhà, cái xe. Tai nghe âm thanh thì biết nó là tiếng chim hót, tiếng vượn kêu, tiếng khen, tiếng chê… Hai là khả năng nhận biết các đối tượng bên trong tức là các đối tượng thuộc phạm trù tâm lý như những khái niệm, ký ức, kinh nghiệm… Như vậy tưởng uẩn là cái thấy, cái biết của ta về con người, sự vật hoặc sự việc. Tưởng chính là tri giác, cũng chính là những kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm tháng hoặc qua nhiều đời, nhiều kiếp. Vì vậy tri giác dễ bị đánh lừa bởi kinh nghiệm bởi vì thực tại luôn luôn biến đổi. Nhờ kinh nghiệm học hỏi mà khi ta thấy cái bàn thì ta biết đó là cái bàn chứ chúng ta không thấy được bản chất của cái bàn. Cái bàn là do tên ta đặt cho nó chứ tự nó không nói nó là cái bàn. Bản chất của cái bàn là sự tổng hợp của nhiều nhân duyên, nhiều yếu tố như gỗ, máy cưa bào cắt, người thợ đóng đinh v. v… mà tạo thành hình cái bàn rồi chúng ta lại đặt tên cái hình tướng đó là cái bàn. Do bản chất của cái bàn do nhiều yếu tố hợp thành nên nó là vô ngã. Do vậy cái biết của tri giác là cái biết có điều kiện do nhiều nhân duyên sinh ra cho nên chúng vô thường và không thật. Cái biết của tri giác cũng chính là vọng tưởng. Ta thường đồng hóa mình với những kỷ niệm, ký ức và kinh nghiệm trong quá khứ khiến cho tâm tham, sân, si phát sinh. Sự hiểu biết sai lầm này chất chứa lâu ngày trở thành thói quen trong tiềm thức khiến cho tâm ta sanh ra rất nhiều vọng tưởng và cuộc sống của ta cũng khổ đau theo những vọng tưởng này. Thọ và tưởng là hai yếu tố rất quan trọng trong ngũ uẩn. Bởi vì khi cảm thọ vui thì sẽ sinh tâm tham ái, khi cảm thọ buồn thì sẽ sinh tâm sân hận. Khi tham ái xuất hiện thì con người có xu hướng nắm chặt lấy đối tượng của tham ái cho nên gọi là thủ. Do thủ mà ta phải làm nô lệ cho dục vọng của chính mình từ đó nghiệp (hữu) phát sinh để phải chịu sinh tử luân hồi. Có một tầng thiền thứ chín trong Phật giáo gọi là Diệt thọ tưởng định. Ai chứng được tầng thiền này thì trở thành Thánh giả A-la-hán. Ở trong Diệt thọ tưởng định hành giả bắt đầu tịnh khẩu trước rồi tịnh thân tịnh ý và cuối cùng là tịnh hơi thở. Người ở trong định này thì hơi thở không còn nhưng sức nóng trong người vẫn được duy trì và các căn vẫn thanh tịnh, nhạy bén. Khi hành giả xuất ra khỏi Diệt thọ tưởng định thì ý hành phát khởi trước nhất sau đó đến thân hành, cuối cùng là khẩu hành mới hoạt động. Cái giống nhau giữa người chết và người đi vào Diệt thọ tưởng định là cả hai đều chấm dứt hơi thở, thân thể bất động, miệng không nói nhưng cái khác nhau là một bên còn hơi ấm nên không chết và một bên không còn hơi ấm nên sắc thân bị tan rã.
Con ma thứ tư là hành uẩn. Hành có nghĩa là tác ý, là ý muốn làm một cái gì đó phát xuất từ bộ não rồi sau đó mới chuyển thành tư tưởng, lời nói hay hành động. Ví dụ trước khi muốn đi thì bộ não phải có tác ý muốn đi rồi sau đó truyền qua hệ thống các dây thần kinh khiến đôi chân bước đi. Trước khi nói hoặc suy nghĩ bộ não cũng phải tác ý. Muốn nói hoặc suy nghĩ về một điều gì đó thì miệng ta mới nói và tâm ta mới bắt đầu suy nghĩ. Khi còn trẻ ta có thể tác ý và thân thể hoạt động theo ý của ta nhưng khi về già tuy ta đã có tác ý muốn đi nhưng thân thể quá yếu đôi chân có thể bị bại liệt do bệnh tật nên không đi được. Hoặc ta tác ý muốn nhớ về một kỷ niệm nào đó trong quá khứ nhưng do tưởng uẩn không còn nhạy bén như trước nên có thể nhớ đầu quên đuôi. Khi con người có những suy nghĩ, lời nói và hành động xấu ác thì trong tâm phải có tác ý bất thiện. Ngược lại khi con người có những suy nghĩ tốt, lời nói hài hòa, hành động thương yêu thì trong tâm phải có tác ý thiện. Đức Phật muốn chỉ rõ cho chúng ta biết nguồn gốc phát sinh suy nghĩ, lời nói và hành động để ta có thể dùng chánh niệm tỉnh giác mà kiểm soát tâm mình. Trong kinh Tứ niệm xứ, Đức Phật có dạy rằng: “Khi tâm tham ta biết tâm tham. Khi tâm không tham ta biết tâm không tham. Khi tâm sân ta biết tâm sân. Khi tâm không sân ta biết tâm không sân. Khi tâm si ta biết tâm si. Khi tâm không si ta biết tâm không si”. Khi thực hành chánh niệm ta mới có thể biết rõ những tác ý thiện ác của tâm và nhờ đó làm chủ được thân khẩu ý của mình. Ta muốn luôn luôn sống trong chánh niệm tỉnh giác thì bản thân phải nỗ lực liên tục chứ không phải siêng năng tùy lúc, tùy thời. Sự theo dõi và quán chiếu tâm của mình cũng giống như cha mẹ theo dõi đứa con thơ, lúc nào cũng muốn bảo vệ không muốn chúng vấp ngã, không cho chúng mắc sai lầm và dạy cho chúng thực hành những điều đúng đắn. Ví dụ niệm Phật là thực hành thiền chỉ nghĩa là trong lúc ta niệm Phật tâm ta cột chặt vào danh hiệu Phật khiến cho vọng tưởng tạm thời dừng lại nhưng khi hết thời khóa công phu niệm Phật vọng tưởng lại dễ phát tác trở lại khiến tâm ta dễ tham, sân, si. Vì thế ngoài thời gian công phu niệm Phật ta phải sống chánh niệm tỉnh giác tức là tinh thần của thiền quán dùng trí tuệ để đưa mọi sự vật, hiện tượng bên trong thân tâm và bên ngoài về hệ quy chiếu của chân lý là vô thường, bất toại nguyện (khổ) và vô ngã. Từ đó trí tuệ sẽ phát sinh, cuộc sống sẽ nhẹ nhàng bình an và tự tại, không còn phiền não lo âu. Hành là tác ý, là động cơ phát sanh ra thân khẩu ý cho nên hành uẩn mang tính chất tạo ra nghiệp và đây cũng chính là động lực đưa con người đi tái sinh trong luân hồi sanh tử. Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyên sanh nên chúng vô thường và vô ngã. Mỗi uẩn chỉ có thể làm công việc của chính nó. Ví dụ thọ uẩn chỉ kinh nghiệm vui khổ và không vui không khổ. Tưởng uẩn đóng vai trò nhận ra đối tượng là gì. Thức uẩn chỉ làm nhiệm vụ phân biệt các đối tượng như đẹp, xấu, giàu, nghèo, sang, hèn, ta, người v.v. Còn hành uẩn có đặc tính là tác động của tâm, là nguyên nhân của suy nghĩ, nói năng, đi đứng, ngồi, nằm… Do sự kích thích tác động của hành uẩn cho nên tất cả hành động về thân, khẩu, ý xảy ra. Bởi vậy thân, khẩu, ý là biểu hiện của hành uẩn nhưng khi hành uẩn biểu hiện qua thân, khẩu, ý thì chúng ta thường mê muội ngộ nhận rằng đó là linh hồn, là tôi, là tự ngã của tôi.
Con ma thứ năm là thức uẩn. Thức là khả năng biết rõ và phản ánh thế giới hiện thực. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần hay nói khác hơn khi giác quan tiếp xúc với đối tượng của giác quan thì thức biết rõ sự có mặt của đối tượng. Thức không nhận ra đối tượng đó là cái gì, màu gì… bởi vì đó là chức năng của tưởng (tri giác). Thức chỉ nhận biết sự hiện diện của đối tượng giống như một tấm gương trong suốt phản chiếu tất cả những hình ảnh đi ngang qua tấm gương đó.
Đức Phật với trí tuệ của mình khi quán chiếu lại thân và tâm thì Ngài thấy rằng tất cả chúng sanh không hề có tâm mà chỉ có những sát na tư tưởng kết nối liên tục lại với nhau khiến chúng ta cảm giác như là có tâm. Thí dụ ở sát na thứ nhất, mũi ngửi mùi thơm cho ta cái biết của mũi (tỷ thức) đến sát na thứ hai lưỡi nếm vị ngon cho ta cái biết của lưỡi (thiệt thức)… Cái biết sau nối tiếp và thay thế cái biết trước và như thế cái biết liên tục sanh diệt đắp đổi cho nhau tạo thành một chuỗi thức liên tục chứ sự thật không có một thức hoặc một cái tâm nào cố định cả. Cái tâm phía sau thay thế cái tâm phía trước và cứ như thế tâm luôn sinh diệt tuôn chảy không ngừng trong tâm hồn của chúng ta. Vì thế thức theo Phật giáo là dòng chảy liên tục của các ý niệm. Vì sự ngộ nhận cho rằng mình có tâm nên con người mới nghĩ tâm đó là ta, là tôi. Bây giờ nếu con người giác ngộ chúng ta thật sự không có tâm thì làm gì có ta và cái của ta. Đó chính là vô ngã. Hãy nhìn sâu vào một dòng sông. Dòng sông có được là do hàng tỷ tỷ giọt nước trôi chảy liên tục kết thành một dòng nước cho nên nếu không nhìn cho thật kỹ, thật sâu sắc thì chúng ta nghĩ rằng dòng sông luôn liên tục. Thật ra nếu ta lấy đi những giọt nước đó thì làm gì có dòng sông.
Ngũ uẩn là 5 con ma hay ngũ uẩn được hiểu rằng sắc uẩn là thể xác, thọ uẩn là tình cảm, tưởng uẩn là lý trí, hành uẩn là tác ý hay ý chí và cuối cùng thức uẩn là sự nhận thức. Trong mỗi con người chúng ta không có gì ngoài năm uẩn. Năm uẩn kết hợp lại thì tạo ra một con người có sự sống. Khi nhân duyên hết, 5 uẩn tan rã thì con người chết đi nhưng chết không phải là hết. Chết để rồi tái sinh vào một hình hài trong lục đạo có thể là con người, là súc sanh, là ngạ quỷ, là Chư Thiên… Giống như một định luật bảo toàn năng lượng. Năng lượng tự bản thân nó không sinh ra cũng không mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Ví dụ khi nước ở thể rắn thì gọi là đá, ở thể lỏng thì gọi là nước, ở thể khí thì gọi là mây nhưng bản chất vẫn là do những phân tử nước tạo thành.
Tóm lại thân và tâm của con người là sự tập hợp của ngũ uẩn nhưng nếu bây giờ chúng ta đồng hóa thân và tâm này là ta, là của ta thì Đức Phật gọi đây là tà kiến. Thí dụ khi mắt nhìn thì nói là tôi nhìn, khi tai nghe thì nói là tôi nghe, tôi cảm nhận ý tưởng này nọ… có nghĩa là bao giờ chúng ta cũng gắn thêm chữ tôi vào xác thân ngũ uẩn để tự nhận nó là mình, là của mình. Ví dụ ta thấy một bông hoa nếu ta nhìn bông hoa và ta biết bông hoa chỉ là bông hoa thôi thì tâm ta sẽ an lạc. Ngược lại nếu ta nhìn bông hoa đó và cho rằng nó đẹp hoặc xấu thì ta đang sống với tự ngã của ta. Bởi vì sao? Bởi vì ta là người khen nó đẹp, chê nó xấu chứ tự thân bông hoa đó chỉ là bông hoa. Nó không có nói mình đẹp hay xấu gì hết vì vậy cho nên mỗi khi chúng ta cộng thêm một chữ tôi hay của tôi và bất cứ một hiện tượng gì thì lập tức đau khổ từ đó phát sinh ngược lại một người giác ngộ mắt vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe âm thanh, mũi vẫn ngửi mùi hương, lưỡi vẫn nếm thức ăn, thân vẫn có cảm xúc nhưng đó chỉ là một sự thấy biết khách quan không cộng tôi và cái của tôi vào trong đó thì sẽ không bao giờ có khổ, vui mà chỉ có sự an lạc, bình yên trong tâm hồn. Khi ta nói khổ đau hay hạnh phúc là đã có sự hiện diện của bản ngã trong đó rồi. Có nghĩa là tôi khổ đau hoặc là tôi hạnh phúc. Cho nên đau khổ là do không được như ý của mình mong muốn còn hạnh phúc là thỏa mãn được ý muốn của mình. Nói một cách khác đi thỏa mãn được cái tôi thì gọi là hạnh phúc ngược lại không thỏa mãn được cái tôi thì gọi là đau khổ chứ sự thật trên thế gian này không có cái gì gọi là khổ đau hay hạnh phúc cả. Do đó khi không còn sống với cái tôi thì người đó sẽ trở về sống với chân lý. Đó gọi là giải thoát, gọi là giác ngộ, gọi là Niết bàn.
Ngũ Uẩn
