Suy Ngẫm

Chấm dứt khổ đau.

Cập nhật: 01/06/2013
Cõi Ta Bà đầy dẫy khổ đau. Muôn loại chúng sanh trôi nổi trầm luân trong vòng sanh tử luân hồi không phương thoát khổ.
 

Chấm dứt khổ đau.

 
 

Xót thương chúng sanh mãi sống trong cảnh đêm dài tăm tối, đức Bồ tát Thiện Huệ đã thị hiện đản sanh ở cõi đời này. Sự kiện hy hữu đó đánh dấu một kỉ nguyên mới trong lịch sử loài người: từ đây Phật giáo ra đời, mở ra một chân trời đầy ắp ước mơ, hy vọng và hạnh phúc cho muôn loại chúng sanh.

Ngày rằm tháng tư năm đó (624 TCN) mãi được khắc sâu trong trái tim của nhân loại. Tại khu vườn Lâm Tỳ Ni thơ mộng ở vương quốc Ca Tỳ La Vệ (thuộc Nepal ngày nay), Thái tử Sĩ Đạt Ta đã mở mắt chào đời. Ngài là nỗi hoài vọng khát khao suốt hai mươi năm dài đằng đẵng của đức vua Tịnh Phạn anh minh và hoàng hậu Ma Gia nhân từ đức độ. Ngài là tinh hoa của muôn loại. Cả vũ trụ hân hoan đón chào Ngài: địa cầu chấn động; thiên nhạc du dương; chim hót vang lừng; trăm hoa đua nở; hương thơm ngào ngạt. Trong giây phút thiêng liêng ấy, mọi khổ đau không còn hiện hữu. Thế giới này thật đẹp đẽ, an lành và hạnh phúc biết bao! Đấng cứu thế đã đản sanh - một tương lai xán lạn đang mở ra. Từ đây, Phật giáo sẽ được khai thị và lan truyền khắp nơi nơi, đưa chúng sanh đến bến bờ an vui giải thoát.

Thái tử Sĩ Đạt Ta lớn lên trong sự yêu thương trân quý của vua cha và mẫu hậu, trong sự ngưỡng mộ và cung kính của thần dân. Ngài khôi ngô tuấn tú, khỏe mạnh tráng kiện, thông minh xuất chúng và đức độ hơn người. Đến tuổi trưởng thành, Ngài kết hôn với công chúa Da Du Đà La và có một con trai là La Hầu La. Tuy sống trong cảnh nhung lụa xa hoa nhưng Ngài luôn canh cánh lo âu về nỗi đau sinh lão, bệnh tử tất yếu của kiếp người. Thế là, trong một đêm khuya, Thái tử Sĩ Đạt Ta nhìn vợ con đang an giấc lần cuối, rồi cùng với người giữ ngựa lặng lẽ rời khỏi hoàng thành. Lúc đó Ngài 29 tuổi, đang tuổi tráng niên cường lực, quyết tâm dứt bỏ hết tất cả để ra đi với khao khát tìm ra con đường thoát khổ đem lại lợi ích cho muôn người.

Ngài trải qua sáu năm dài tu khổ hạnh dẫn đến tình trạng cơ thể suy kiệt, tinh thần mệt mỏi, trí óc suy giảm mà vẫn không tìm ra chân lý. Cuối cùng, Ngài quyết định dứt khoát từ bỏ lối tu khổ hạnh mà chọn con đường trung đạo. Vì để suy gẫm thấu chân đạt lý cần có thân thể khỏe mạnh và tinh thần minh mẫn, nên Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa do nàng Sujata cúng dường. Sau đó, Ngài đi đến vùng ngoại thành Vương Xá nước Ma Kiệt Đà, nơi có dòng sông trong mát, cây cối xanh thẳm, hoa lá tốt tươi để tu tập. Lấy cỏ làm nệm ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài thề nguyện rằng: “Nếu không đạt chân lý dù thịt nát xương tan ta cũng không rời khỏi chỗ này”. Ngài đã liên tiếp chiến thắng cả ma chướng nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được yên ổn trong thiền định.

Trong đêm thứ 49, vào khoảng 10 giờ đêm, Ngài chứng “Túc mệnh minh”, thấu suốt tất cả tiền kiếp trong quá khứ. Tiếp tục thiền định, tới khoảng nửa đêm, Ngài chứng “Thiên nhãn minh”, thấy rõ tất cả bản thể và cấu tạo của thế giới vũ trụ. Vẫn kiên cố hành thiền tam muội, đến khoảng 2 giờ sáng, Ngài chứng “Lậu tận minh”, vô lậu, sạch hết trần cấu. Ngài tự biết: “Ta đã giải thoát, không còn tái sinh nữa, tu hành viên mãn, việc làm đã xong, không còn trở lại trạng thái khi xưa nữa”. Ngài từ từ mở to đôi mắt chợt thấy sao Mai lấp lánh, hốt nhiên “Toàn Ngộ”, thấu triệt cùng khắp chân lý vũ trụ, thần thông quảng đại. Ngài đạt Đạo Vô Thượng năm 35 tuổi, thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thấu triệt chân lý của vạn pháp, tìm ra con đường thoát khổ, Ngài lại bôn ba khắp nơi truyền trao chánh pháp, mở ra một kỷ nguyên tươi sáng trong lịch sử của loài người. Ròng rã suốt 45 năm như thế, Ngài không nề hà gian lao vất vả, thời tiết khắc nghiệt, đầu trần chân đất, vượt suối băng ngàn, dãi nắng dầm sương xông pha khắp vùng rừng núi hoang sơ đến tận thung lũng hẻo lánh, từ làng mạc nghèo khổ đến đô thị phồn hoa để độ sanh thuyết pháp, hay truyền cho các đệ tử thay Ngài hóa độ chúng sanh. Ở đâu Ngài và chư Tăng cũng được tiếp đón nồng hậu. Từ vua quan đến dân chúng, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, cả nam lẫn nữ đều hân hoan đón tiếp Ngài, vui thú gột rửa cho sạch hết những bụi nhơ trần cấu trong ánh sáng trí huệ của Đức Như Lai và tắm mát cho lành lại bao vết thương lòng trong dòng nước từ bi mà Ngài ban phát khắp nơi nơi. Ngài lúc nào cũng khoan dung độ lượng, ân cần và hòa nhã tế độ chúng sanh. Có đôi khi bị các thế lực ngoại đạo vu khống hãm hại, Ngài vẫn kiên trì, nhẫn nại, minh mẫn và khôn khéo vượt thoát bao cạm bẫy nham hiểm của kẻ xấu ác. Nhờ trí huệ và đức độ của Ngài, tà giáo và ngoại giáo suy yếu và lui xa dần để nhường chỗ cho Ánh đạo vàng sáng ngời tinh khiết, như bóng tối mê mờ tan biến trước ánh bình minh đang lên. Giọng thuyết pháp của Ngài có oai lực như tiếng sư tử rống, nhiếp phục tất cả muôn loài, như khí thế mạnh mẽ của Hải triều âm, cuốn phăng đi tất cả chông gai chướng ngại mở ra chân trời xán lạn của trí huệ, của tình thương và của đạo thoát khổ.

Trí huệ của Ngài quả thật đạt đến bậc siêu phàm xuất chúng, tình thương của Ngài dành cho chúng sanh như đại dương rộng mênh mông. Ngài chưa bao giờ luận bàn đến những giáo điều cứng nhắt, đơn điệu tẻ nhạt hoặc những lý thuyết quá viễn vông huyễn hoặc, xa rời thực tiễn và không có ý nghĩa giáo dục. Chú trọng đến việc làm lợi ích cho muôn người, Ngài bảo: “Từ trước đến nay, Như Lai chỉ giảng dạy về KHỔ và con đường DIỆT KHỔ” (kinh A Na Luật Đà). Để tất cả mọi người từ kẻ ngu khờ chất phác đến bậc thông tuệ sáng suốt đều lĩnh hội được chân lý lợi mình lợi người, mỗi lời dạy của Ngài đều chân thành, trong sáng, dễ hiểu mà lại sâu sắc, thâm trầm và uyên bác đến kỳ lạ. Ngài tận tình chỉ dạy 84.000 Pháp môn tu tập. Các bài Pháp của Ngài phong phú, đa dạng, khế hợp với đủ loại căn cơ trình độ và tâm tư tình cảm muôn màu muôn vẻ của chúng sanh. Giáo lý của Ngài vừa có tính thực tế, gần gũi với đời thực vừa thấm nhuần chân lý xuất thế thâm sâu vi diệu khó nghĩ bàn, vừa có thể thực hành để mang lại lợi ích thực tiễn cho đời sống của con người trong hiện tại vừa mở ra con đường tu tập dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn trong tương lai. Chính bản thân Ngài và cuộc đời Ngài là bằng chứng sinh động, rõ nét và đầy tính thuyết phục việc thực hành tu tập thành công những giáo lý mà Ngài tận tâm chỉ dạy cho chúng sanh.

Ngày nay tuy không còn dịp mắt thấy tai nghe đức Như Lai thuyết pháp, nhưng chúng ta vẫn may mắn được tụng kinh niệm Phật, học hỏi hành trì và rút ra những bài học bổ ích để ứng dụng thực tập đạo Phật trong đời sống hằng ngày. Nghiên cứu kho tàng kinh điển quý giá Ngài để lại, chúng ta không khỏi chân thành ngưỡng mộ trí huệ uyên bác tột cùng của Ngài, đồng thời xúc động sâu sắc trước tình yêu vô hạn Ngài luôn trọn dành cho tất cả chúng sanh. Sức người bình thường không thể làm được việc thuyết giảng khối lượng tam tạng kinh điển đồ sộ, thâm trầm và uyên bác như thế. Chỉ có bậc Vô Thượng Y Vương với trí huệ xuất chúng, ý chí dũng mãnh, nghị lực phi thường, tinh thần bình đẳng triệt để và lòng thương đời, thương người vô hạn mới đủ sức làm nên kỳ tích vĩ đại này. Ngài thuyết giảng và hướng dẫn đến 84.000 phương tiện tu tập khác nhau tùy theo căn cơ phước đức của chúng sanh. Thế nhưng, tất cả hệ thống giáo lý ấy đều nhất quán với nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau và tất cả đều toát lên cái phong cách độc đáo rất riêng của Ngài: không chạy theo lối văn cầu kỳ hoa mỹ, bóng bẩy trau chuốt hay sáo ngữ rỗng tuếch mà luôn rõ ràng, giản dị, trong sáng, dễ hiểu và hợp tình hợp lý. Không phải ngẫu nhiên mà nhà bác học người Đức Albert Einstein, một trong những cha đẻ của ngành vật lý hiện đại và là một trong những nhà khoa học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20 đã nhận Giải Nobel Vật lý năm 1921, lại khẳng định giá trị vĩnh cửu của giáo lý đạo Phật rằng: "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của toàn vũ trụ pháp giới, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn tâm linh, tôn giáo ấy dựa trên ý nghĩa của sự tu tập, phát sinh từ kinh nghiệm tổng thể của tự nhiên và tâm linh, trong sự thống nhất đầy ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description).

Phật tử chúng ta may mắn có được vị giáo chủ (Phật Bảo) giác ngộ sáng suốt và cao quý như thế, hằng ngày được hành trì tụng niệm Pháp Bảo thâm sâu vi diệu, đồng thời nhận được sự dìu dắt, chỉ dạy và hướng dẫn ân cần của Tăng Bảo để có cuộc sống tốt đẹp, trước để làm tròn nghĩa vụ với bản thân, gia đình và xã hội, sau nữa để đạt được giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Kinh Phật dạy rằng:

“Quy y Phật khỏi đọa địa ngục.
Quy y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ.
Quy y Tăng khỏi đọa bàng sanh.”

Thiết nghĩ, chúng ta đều có được đầy đủ thiện căn phước đức để quy y Tam Bảo rồi. Vậy tất cả các Phật tử có dám khẳng định rằng: mình đã quy y Tam Bảo rổi, thì tương lai chắc chắn mình không còn bị đọa lạc vào ba đường khổ địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh nữa không và mình sẽ vĩnh viễn thoát khổ trong muôn kiếp về sau không? Quý vị có đoan chắc về việc ấy không?

Chúng tôi rất hy vọng rằng câu trả lời của quý vị là “có”. Nếu thế, ắt hẳn quý vị đã để tâm nghiên cứu cẩn thận và chu đáo về ý nghĩa của việc quy y Tam Bảo và hành trì đúng pháp quy y Tam Bảo để có được lợi ích thiết thực cho bản thân là hoàn toàn giải thoát khỏi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh sau khi chọn lựa, tin tưởng và phát nguyện trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng.

Vậy chúng ta hãy cùng nhau một lần nữa nghiên cứu lại vấn đề xem: nghiệp ác nào khiến con người bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh? Phật, Pháp, Tăng có thuộc tính tốt đẹp cao quý như thế nào và tại sao quy y Phật, Pháp, Tăng cứu chúng ta khỏi bị đọa vào ba nẻo dữ?

Trước tiên, chúng ta sẽ xem xét những nhân tố nào khiến con người bị đọa vào địa ngục. Kinh Địa Tạng dạy rằng: những tội báo khiến chúng sanh phải đọa vào Vô Gián địa ngục là bất hiếu với cha mẹ, làm thân Phật bị thương chảy máu, phỉ báng Tam Bảo, xâm tổn (lạm dụng hoặc trộm cắp) của thường trụ, ô phạm Tăng Ni, dâm loạn trong chốn chùa chiền v.v… Tóm lại, chúng sanh tạo các ác nghiệp, tà kiến sẽ bị đọa đày trăm ngàn kiếp trong chảo dầu sôi, cột đồng cháy đỏ, hầm băng giá, rừng đao, núi kiếm v.v… ở cõi địa ngục. Muốn thoát khỏi cảnh khổ địa ngục chỉ có hai cách thôi: 1. Chúng sanh cam chịu thống khổ tột cùng ức kiếp trong địa ngục; sau khi mãn hạn địa ngục, chúng sanh đó sẽ được sanh về một cảnh giới khác ít khổ đau hơn như ngạ quỷ, súc sanh v.v… (tuy nhiên, vì tâm trí còn vô minh độc ác nên chúng sanh này vẫn có thể tạo nghiệp ác và sau đó lại trở vào địa ngục). 2. Chúng sanh quy y Phật để được thoát khổ địa ngục. Phật là bậc giác ngộ sáng suốt và từ bi vô lượng. Quy y Phật tức là trở về con đường chân chánh sáng suốt để không còn rơi vào chỗ vô minh mê lầm. Hằng ngày chúng ta phải luôn tỉnh thức nhớ tưởng đến Phật, niệm danh hiệu Phật, chiêm ngưỡng lễ lạy tượng Phật, và nguyện suốt đời theo bước chân Phật. Đó là chúng ta trở về với Phật tánh cao quý của mình, hành theo hạnh Phật để tâm không còn sân hận, ác độc và tà kiến nữa mà luôn được thanh tịnh, sáng suốt, hiểu biết và cao thượng. Như thế là tự quy y Phật.

Thứ hai, chúng ta hãy xem xét những nhân tố nào khiến con người phải đọa vào cõi ngạ quỷ. Đó là do tâm tham lam, keo kiệt và hiểm độc. Kết quả là chúng sanh bị đọa vào cõi ngạ quỷ lúc nào cũng chịu đựng cảnh đói khát và nóng bức trong trăm ngàn kiếp. Tương tự như trên, sau khi mãn hạn ngạ quỷ, chúng sanh này sẽ tái sanh vào cõi địa ngục, súc sanh hoặc cõi người v.v… tùy theo nghiệp báo dẫn dắt. Muốn vĩnh viễn thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ, chúng sanh phải quy y Pháp Bảo, hàng ngày tụng kinh niệm Phật, nghiên cứu nghĩa lý cao sâu huyền diệu của Pháp Bảo, và sống đúng tinh thần của Pháp Bảo. Biết sợ cảnh khổ trong đường ngạ quỷ, chúng sanh đó không còn tham lam ích kỷ mà lại yêu thích bố thí cúng dường, thường hay bố thí cúng dường, khuyên bảo người khác bố thí cúng dường và hoan hỉ khen ngợi người bố thí cúng dường. Họ luôn tu tập và trưởng dưỡng các pháp hành từ, bi, hỉ, xả… để thanh tịnh tự thân và làm lợi ích cho tha nhân. Như thế là tự quy y Pháp.

Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét nghiệp báo nào khiến chúng sanh đọa vào cảnh khổ súc sanh. Đó là do vô minh si mê. Người mù quáng, vô tâm theo đuổi những khát khao thú tính của mình (chỉ thỏa mãn với việc ăn, ngủ và những thú vui xác thịt), không chịu tu tập để phát triển trí tuệ cũng không hành thiện để tích lũy phước đức sau khi chết sẽ đọa vào cảnh giới súc sinh trong một thời gian dài đăng đẳng. Chúng sanh cõi này phải chịu đựng sự ngu tối, nỗi sợ hãi và đau đớn của cảnh không ngừng tàn sát tổn hại và ăn nuốt lẫn nhau. Thêm nữa, họ phải cam chịu cảnh con người giết họ để lấy thịt, da, răng, sừng, ngà hoặc ngọc của họ. Nếu không bị giết, họ buộc phải làm việc nặng nhọc và vất vả để phục vụ cho con người, những kẻ điều khiển họ bằng xích sắt và roi da. Muốn được giải thoát khỏi cảnh khổ của súc sanh, Phật tử chúng ta phải quy y Tăng Bảo. Chúng ta luôn kính trọng và vâng theo lời dạy của Tăng đoàn hòa hợp thanh tịnh, nghiêm trì giới luật và lợi lạc chúng sanh. Chư Tăng giảng dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải, tránh ác làm lành, tụng kinh niệm Phật cùng với những phương pháp và kinh nghiệm thực hành lời Phật dạy để sống hòa hợp, tốt đẹp với mọi thành viên trong gia đình, trong cộng đồng và trong xã hội. Vì thế, tự quy y Tăng là chúng ta quay về nương tựa đức tánh thanh tịnh hòa hợp của chính mình.

Tóm lại, chúng sanh ở cõi Ta Bà cứ mãi đắm chìm trong biển khổ, bơ vơ lầm lũi trong đêm tối vô minh, liên tục xoay vần lên xuống trong sáu nẻo luân hồi cho đến khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì lòng từ mẫn xót thương mà giáng sanh xuống cõi khổ này, cam chịu bao nỗi gian lao vất vả để giảng kinh thuyết pháp, chỉ dẫn dạy bảo con đường thoát khổ cho vô lượng chúng sanh. Nhờ Hồng ân tế độ của Phật đà, từ đây chúng con hiểu được sự vô minh tham ái, sân hận ác độc, tham lam ích kỷ và si mê mù quáng tất sẽ dẫn đến đọa lạc khổ đau; chúng con nhận thức và tin chắc việc quy y Tam Bảo, hành trì tu tập nương tựa Phật, Pháp, Tăng giúp cho thân tâm thanh tịnh, đức độ từ ái, giác ngộ sáng suốt và hoàn toàn thoát khổ. Chúng con nguyện suốt đời nương tựa Tam Bảo, kính Phật trọng Tăng, chuyên tâm thực hành tu tập theo lời Phật dạy, sống hòa hợp với chánh pháp và hành thiện lợi tha để tự thân thoát được tam đồ khổ và giúp mọi người cùng được thoát khổ như chúng con. Có như thế, chúng con mới mong phần nào báo đáp được ân đức cao dầy của Đức Thế Tôn, như lời Ngài dặn dò trước lúc ly trần: "Này Ananda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai theo cách như vậy. Bất cứ Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào sống đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính người đó, tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai một cách tốt đẹp nhất".

*Tài liệu tham khảo:

1. Phật giáo căn bản - Toàn Không Đỗ Đăng Tiến.

2. The Tree of Enlightenment – Peter Della Santina.

Diệu Pháp.

Tin tức liên quan

Không đề
06/06/2021
Bóng mát giữa trời
27/08/2018
Làn gió mát buổi sớm bình minh!
23/08/2018
Vĩnh biệt anh
14/07/2018
Đánh mất tuổi thơ
02/07/2018