Vào một buổi sáng tinh mơ, khi những ánh bình minh chưa ló dạng, chúng con (người viết) đã nhận được một tin nhắn “hết hồn”: “Mấy thầy tu hành gì mà bây giờ không ở chốn rừng núi, chỉ toàn ở thành thị. Có mà tu hú chứ tu hành gì tầm này!”.
Chúng con cũng không biết trả lời sao cho thỏa ý người hỏi. Thứ nhất, vì mình không biết họ có phải “ngoại đạo” hay không. Thứ hai, nếu họ là Phật tử nhưng là người bảo thủ, cực đoan thì mình có giải thích cũng bằng thừa. Tóm lại, vì không chắc chắn và cũng để cẩn trọng, nên chúng con không phản hồi.
Câu nói của người này khiến chúng ta phải suy nghĩ. Vậy tu hành là ở đâu? Có phải chỉ ở rừng núi mới có thể tu được không? Chúng ta sẽ cùng nhau bàn luận sơ qua vấn đề thú vị này!
CHỮ “HỌC”, CHỮ “TU”
Người xuất gia thường được xã hội hiểu nôm na là “người tu”, tức là một người từ bỏ đời sống thế gian, vào chùa cạo tóc và sống đời kham khổ: ít ăn, ít ngủ, sinh hoạt thì công phu ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật,… là chủ yếu. Hiểu như vậy thì chưa hoàn toàn chính xác.
Người xuất gia là những vị thọ mười giới Sa-di hoặc giới cụ túc Tỳ-kheo. Buổi đầu phải học về giới luật, lễ nghi, phép tắc người xuất gia; song song đó là học kinh điển, từ những bài kinh ngắn, dễ hiểu cho đến những bài kinh, bộ kinh thâm thúy khác. Người xuất gia cũng không phải chỉ dành trọn cả thời gian trong ngày để học, mà còn phải công phu tu tập qua các thời khóa được quy định tại chùa, thường là buổi sáng sớm vào lúc 4h (hay 5h) và buổi tối vào lúc 18h (hay 19h). Tùy mỗi chùa mà hình thức tu tập có thể khác nhau: hoặc tụng kinh, hoặc niệm Phật, hoặc ngồi thiền, hoặc trì chú, hoặc có thể kết hợp hình thức này với hình thức kia trong một buổi công phu tu tập.
Vậy người xuất gia tu học như thế để làm gì? Trong kinh điển Pāḷi thường đề cập đến mục đích tu học của người xuất gia: “đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn”. Những phiền não, khổ đau của đời sống thế nhân là biểu hiện cho sinh tử luân hồi. Muốn giải thoát sinh tử luân hồi thì trước phải giác ngộ được các pháp là khổ, không, vô thường, vô ngã. Cho nên, việc người xuất gia tu học là để giác ngộ như thế.
THỰC TRẠNG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Chúng con đã khái quát về chữ “học”, chữ “tu”. Đó là lí tưởng của người xuất gia. Tuy nhiên, căn cơ chúng sinh qua từng thời gian thì có khác biệt. Khi nói đến một điều gì, chúng ta cần phải biết phù hợp thời gian (khế thời), phù hợp với sự thật (khế lý), phù hợp với đối tượng (khế cơ). Chúng con sẽ cho một vài ví dụ để làm sáng tỏ ba cái “khế” này.
Đến giờ ăn thì phải ăn, đến giờ ngủ thì phải ngủ. Đó là khế thời, làm ngược lại là không khế thời.
Chuyện có nói là có, chuyện không biết nói là không biết. Đó là khế lý, còn ngược lại chuyện có nói không, chuyện không nói có đó là không khế lý.
Trẻ em thì thích quà vặt, đàn ông thì thích xe cộ, thể thao, phụ nữ thì thích mua sắm. Đó là tùy từng sở thích, gọi là biết khế cơ.
Qua đó, khi chúng ta đề cập đến việc tu học và quy vào ba khía cạnh khế thời, khế lý và khế cơ thì ta sẽ có được một vài tóm lược như sau:
Việc tu học là chính yếu nhưng không phải ai tu cũng đạt kết quả, vẫn có những người xuất gia rồi hoàn tục vì bị cám dỗ bởi ngũ dục, lục trần.
Người học giỏi chưa chắc tu đã giỏi, nhưng người muốn tu giỏi thì không thể bỏ qua việc học. Tuy vậy, nếu quá sa đà vào việc thích tu mà không học thì dễ lầm đường lạc lối.
Phải thẳng thắn thừa nhận với nhau rằng, con người sinh ra trong thời đại công nghệ kỹ thuật số 5.0 phát triển thì đã có khá nhiều cản trở khách quan lẫn chủ quan cho việc tu học. Về khách quan, những cám dỗ, những mời gọi hấp dẫn từ tiện nghi vật chất rất khó để con người từ bỏ mà đi tu. Về chủ quan, vì sinh ra trong môi trường đầy dẫy những phương tiện thuận lợi dẫn đến dục lạc, nên ít nhiều con người thời đại đã bị tiêm nhiễm, tạo nên rất nhiều tập khí xấu khó bỏ như: nghiện thuốc lá, nghiện rượu bia, nghiện game, nghiện ăn chơi, mua sắm,… thậm chí là cả nghiện tình dục.
Nếu không khéo tiết độ và điều chỉnh đời sống tâm linh thì dễ dẫn đến tình trạng chỉ chất chứa kiến thức chứ không hề chuyển hóa phiền não, tập khí. Vậy là tổn phước, tổn đức của mình vì toàn là bất thiện khởi sinh qua những biểu hiện của tham, sân, si: ngã mạn vì mình học cao, nổi giận khi ai đó xem thường mình, và si mê trong danh lợi, quyền chức, tiền bạc… Vậy muốn sinh phước thì phải làm sao? Ở đâu có thiện thì ở đó có phước: “Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là các thiện.” (Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Chánh tri kiến)
NÊN THỰC TẾ VỀ VIỆC TU HÀNH NGAY NƠI BẢN THÂN MÌNH
Từ những phân tích trên, ta nhận ra rằng, để duy trì được tâm Bồ-đề của người xuất gia thì thật là khó trong thời đại này. Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không làm được. Chúng ta sinh ra trong giai đoạn này là giai đoạn thiếu phước, kém đức, rất gian nan để thành tựu mục đích, lí tưởng người xuất gia. Do vậy, người tu – dù xuất gia hay tại gia, cần phải trau dồi các ba-la-mật để có đầy đủ hành trang, tư lương mà vượt qua giông bão cuộc đời. Có người cho rằng, cứ ngồi công phu thôi là có phước đức lớn. Quả đúng như vậy! Nhưng chỉ đúng thực sự khi ngồi tu không vọng tưởng, có định tâm, có kết quả. Việc thanh lọc tâm ý của chúng ta giữa xã hội 5.0 này là phải đi từng bước một, từ căn bản cho đến nâng cao. Bên cạnh đó, nếu các ba-la-mật được vun trồng đầy đủ thì tâm mới lắng yên, ngồi mới an định được. Sáu ba-la-mật đó là: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Mười ba-la-mật đó là: bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ và tâm xả.
Tựu trung, theo thiển ý người viết, mặt bằng chung con người thời đại này khó kham nhẫn phiền não của thân tâm để có thể vào rừng, núi, hang, hốc để sống độc cư, chuyên tâm thiền định đúng hướng, mà cần phải phước tuệ song tu.
Giả sử rằng, ai đi xuất gia cũng vào rừng núi ngồi tu không thôi thì chắc có lẽ đạo Phật bây giờ cũng không còn trên thế gian. Vì sao? Vì không có chùa chiền để truyền bá Phật pháp. Vì nhờ có các buổi giảng pháp tại chùa, có các khóa tu học do chùa tổ chức, có kinh sách do chùa ấn tống mà chúng ta mới tiếp xúc được với đạo. Thời nay rất hiếm kiếm được một người chỉ đi ngang qua nghe một câu kinh mà ngộ đạo như ngài Lục tổ Huệ Năng. Ngài vốn là tiều phu, nhân buổi đi ngang nhà nọ chỉ nghe một câu kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” thì liền ngộ đạo.
Chúng ta lên chùa tụng kinh hằng ngày, đọc rách cả mấy chục cuốn kinh rồi mà đã có ngộ đạo chưa? Nếu chưa, đủ biết căn cơ chúng ta thời đại ngày nay như thế nào rồi!
LỜI CUỐI CHO NHAU
Rốt cuộc, chúng con cũng chỉ muốn đề cập đến thực trạng khách quan của thế giới hiện đại và căn cơ chủ quan của con người trong chính thời đại. Chúng ta là người tu học Phật pháp, cần phải nên thực tế và dám nhìn thẳng vào vấn đề hiện hữu, không nên ảo tưởng, mơ mộng đủ thứ cao siêu. Lí tưởng thì tất nhiên cần hướng tới nhưng chỉ ngồi ôm lí tưởng rồi ngủ quên mà không hành động cho thực tế thì chỉ là uổng phí công sức.
Do đó, chúng ta làm được điều gì hướng thiện cho bản thân thì làm, gây dựng hưng thịnh cho đạo pháp thì gắng sức thực hiện. Tu hành phải vun bồi ba-la-mật qua nhiều kiếp, khi tròn đầy thì thành tựu, không phải một ngày một bữa mà xong. Khai thị cho căn cơ thời đại ngày nay, đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh có dạy một câu như sau: “Hãy khoan hồng tha thứ, biết thiện thì làm, tới đâu thì tới.”
Mong sao, xã hội và con người trong xã hội biết hướng tới quy y Tam Bảo, giữ gìn năm giới, biết làm lành lánh dữ, và biết làm lợi ích cho mọi người quay về chánh đạo, chỉ như vậy thôi, cũng là đã quý báu lắm rồi!