Còn đó chút hồng phai

Đà Lạt đầu đông, những cội đào già ủ rũ thả rơi những chiếc lá vàng cằn cỗi cuối cùng. Thế rồi, từ những cành cây khẳng khiu, trơ trọi, những nụ hoa vươn mình ra khỏi lớp vỏ cây xù xì, bung mình khoe sắc giữa đất trời. Để có được tấm áo choàng màu hồng phấn, những cây đào đã ấp ủ dưỡng chất và tinh hoa của trời đất suốt một năm dài, phải chấp nhận hi sinh những chiếc lá cuối cùng, như chết một lần để được tái sinh. Đời hay đạo phải chăng cũng mang cùng ý nghĩa của bài học này. Ấp ủ, dưỡng nuôi, cuối cùng là chấp nhận bỏ lại, từ giã, mới có thể tiến bước, đi lên, thành tựu những gì cần đạt được. Đức Thế Tôn, bậc thầy của chư Thiên và nhân loại, cũng đã dành vô lượng kiếp để ấp ủ, đó là hành trình vun bồi ba la mật, để đến khi duyên chín muồi, Ngài thực hiện một cuộc từ bỏ vĩ đại và cuối cùng thành đạo lớn dưới cội bồ đề.
Câu chuyện về sự ra đi tầm đạo của đức Phật là nguồn cảm hứng vô tận cho bao thi nhân, họa sĩ, triết gia và các nhà điêu khắc… tán thán, trầm trồ, ngưỡng mộ và tạo nên những kiệt tác thi họa, thơ ca để lại cho đời. Thông qua những câu chuyện về Ngài, cũng như những lời dạy minh triết mà đức Phật đã để lại trong kho tàng kinh điển, chúng ta có thể hình dung được Thế Tôn là bậc giác ngộ viên mãn, hội tụ tất cả những phẩm chất, công hạnh tốt đẹp nhất trên cuộc đời. Theo học giả Max Miller (người Đức), đức Phật là hiện thân của tất cả những đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Ngài nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Trong bốn mươi lăm năm hoằng pháp, chính những đức hạnh tuyệt vời của Ngài đã khiến cho biết bao người được cảm hóa, học theo công hạnh của Ngài để trở thành những con người giác ngộ. Trong vô vàn đức tính cao đẹp của Thế Tôn, ngoài hai điều nổi bật là từ bi và trí tuệ, sự xuất ly hay từ bỏ của đức Phật là điều đáng để lưu tâm.
Tính xuất ly hay từ bỏ, từ Pali là Nekkhamma, là một trong những công hạnh Ba-la-mật mà đức Phật đã vun bồi từ vô lượng kiếp để có thể trở thành một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác Theo nghĩa gốc, Nekkhamma nghĩa là sự khước từ, đoạn tuyệt những lạc thú của thế gian để đi theo con đường tu hành giải thoát của hành giả tu sĩ. Ngoài ra, nó còn có nghĩa là tạm thời vượt qua khỏi các pháp che lấp con đường Niết Bàn bằng việc thực nghiệm các tầng Thiền. Hiểu theo nghĩa rộng và bao quát hơn, đó là sự lìa bỏ, đi tới, vươn lên, để đạt được những điều tốt đẹp hơn, tối thắng hơn.
Nhìn lại cuộc đời của đức Phật, những sự kiện quan trọng trong đời Ngài gắn liền với hai chữ “từ bỏ”. Bồ tát Hộ Minh có từ bỏ đời sống ở cung trời Đâu Xuất mới có thể hạ phàm xuống nhân gian trong thai bào của hoàng hậu Maya. Bồ tát có “từ bỏ” sự ấm êm, an bình trong bụng mẹ mới có thể bước đi bảy bước nơi vườn Lâm Tỳ Ni năm ấy. Thái tử Tất Đạt Đa có dũng khí từ bỏ đời sống vương giả trong cung vàng điện ngọc, cùng những hạnh phúc bên vợ đẹp và con thơ nơi kinh thành Kapilavatthu, mới có thể xuất gia tầm đạo. Thế rồi, trong thời gian tầm sư học đạo, Ngài lần lượt từ bỏ những vị thầy nổi tiếng đương thời là Ālarāma Kālāma và Uddaka Rāmaputta tìm đến khổ hạnh lâm để cộng tu với nhóm năm anh em ông Kondañña. Nhận thấy con đường khổ hạnh không thể nào thành tựu đạo nghiệp, Bồ tát lại từ bỏ lối tu đó, đi theo con đường Trung Đạo. Ngồi dưới cội cây Tất bát la, Ngài nhìn lại nội tâm mình và từ bỏ đến tận cùng, rốt ráo những phiền não, bất thiện pháp, để có thể đánh bại ma quân và chứng đắc quả vị Phật Toàn Tri Toàn Giác. Sau một đời thuyết giảng giáo pháp, đức Thế Tôn có cuộc xả ly lần cuối cùng, từ bỏ ngũ uẩn giả hợp để Niết Bàn, tịch diệt, vô vi. Mỗi lần Ngài khởi tâm từ bỏ là một lần đất trời rúng động.
Đời sống mỗi người phải chăng cũng chính là những cuộc khước từ, lìa bỏ, chia xa. Nếu ví đời người là những chuyến đi, chúng ta có chấp nhận lìa khỏi bờ này mới có thể tìm sang bến khác, có rời sân ga này mới đến được sân ga kia. Ai rồi cũng phải lớn lên, rời xa gia đình, cha mẹ để học hành và làm việc, mới có thể trưởng thành. Đối với người xuất gia, ý nghĩa của hai chữ “xuất gia” đã nói lên giá trị cao quý của sự từ bỏ. “Xuất thế tục gia” là ra khỏi căn nhà của đời sống thế tục, xa cha mẹ, anh em, dòng họ để đến cộng trú với Tăng đoàn nơi chùa, tự viện, thiền lâm. Thoát khỏi những ràng buộc và tục lụy của đời sống thế thường. “Xuất phiền não gia” là nguyện rằng lòng mình phải ra khỏi căn nhà phiền não, cội nguồn của đau khổ và luân hồi sinh tử. “Xuất tam giới gia” là ước nguyện phải ra khỏi căn nhà Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới) mà bao đời nay ta cứ phải trôi lăn, xoay vần, luân chuyển trong những hình hài và trạng thái khác nhau. Có kiếp ta làm ong kiến, kiếp thì bá tước công hầu, có khi thong dong các cảnh trời, lúc lại khóc gào nơi địa ngục. Cũng chính vì nỗi khổ sinh tử ấy mà bao Bậc Thánh đã khởi tâm chán chường, mong muốn sự lìa bỏ và xuất ly.
Hành trình tu tập của một hành giả cũng chính là những cuộc ra đi, từ bỏ. Một người muốn chứng đắc sơ thiền phải tạm rời xa, hay lắng dịu năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá và hoài nghi. Từ sơ thiền lên nhị thiền là quá tình từ bỏ tầm và tứ, hai yếu tố thô làm ảnh hưởng đến thiền chứng. Từ nhị thiền, hành giả muốn chứng được tam thiền, thì không thể nào giữ lại hỷ. Đến tứ thiền thì không còn lạc, chỉ có xả và nhất tâm. Sự tu tập tịnh tiến của các tầng thiền Sắc Giới là từ bỏ những chi thiền từ thô đến tế. Qua đến những tầng thiền Vô Sắc, hành giả phải nhận thấy đối tượng của tâm thiền là thô, từ bỏ nó thì mới chứng đắc được các tầng thiền cao hơn, để tâm trở nên vi tế hơn. Đối với bốn Thánh Đạo và Thánh Quả từ Tu Đà Hoàn đến A La Hán, cũng là một hành trình khước từ, xa rời, lìa bỏ. Tu Đà Hoàn dứt tuyệt hoàn toàn thân kiến, giới cấm thủ và nghi. Tư Đà Hàm là dịu bớt tham và sân, đến A Na Hàm thì đoạn diệt hẳn tham, sân. A La Hán là dứt trừ toàn bộ những phiền não từ thô đến tế. Hiểu được từng hành trình ấy, chúng ta thấy được giá trị sâu rộng của đức tính Nekkhamma, tâm từ bỏ, xa lìa, đoạn diệt.
Nhiều người nghe hai chữ “từ bỏ” hay “xa lìa” liền nghĩ đạo Phật mang tư tưởng yếm thế, chán đời, làm cho xã hội không phát triển, khiến cho bao người trở nên lười nhát, chán nản, phớt lờ hay thờ ơ. Đó là bởi vì họ chưa hiểu trọn vẹn ý nghĩa của sự từ bỏ. Tại sao những công ty hay tập đoàn lớn như Samsung, Apple phải liên tục cho ra những sản phẩm mới, mà không chỉ sản xuất một mẫu sản phẩm? Một tổ chức, đoàn thể nếu cứ khư khư và cố chấp giữ mãi những cách thức sinh hoạt và vận hành lỗi thời, liệu có thể bền vững và tồn tại lâu dài? Trong sản xuất và kinh doanh, yếu tố sáng tạo và mới mẻ luôn được đề cao. Muốn phát triển, người ta phải từ bỏ dần những ý tưởng lỗi thời. Trong tổ chức, muốn đoàn thể được vững mạnh, cần phải linh hoạt và khéo léo, có những thay đổi phù hợp với thời thế, hoàn cảnh, từ bỏ những lối tư duy theo lối mòn, cổ hủ, cứng nhắc. Vạn vật trong pháp giới luôn nằm trong thế vận hành, biến chuyển, thay đổi, cho thấy tinh thần dám từ bỏ mang một ý nghĩa tích cực chứ không phải tiêu cực. Hình ảnh ba vị Thần mà Ấn Độ giáo tôn thờ là Brahma, Vishnu và Shiva chứa đựng những biểu tượng sáng tạo, bảo hộ và hủy diệt mang giá trị hết sức tinh tế. Nếu chỉ có sáng tạo và bảo hộ mà không có hủy diệt thì sẽ ra sao. Nếu con người chỉ có sinh mà không có chết thì nhân loại sẽ như thế nào? Người ta sẽ không còn chỗ để đứng, không có cơm để ăn.
Lòng bàn tay có buông vật này, mới có thể nắm lấy vật khác. Đức tính từ bỏ của Thế Tôn là bài học cao đẹp ngàn đời cho hậu thế. Ngài dạy ta phải biết xuất ly, buông những tình cảm nhỏ hẹp của gia đình, dòng họ thì tâm mới có thể mở rộng và yêu thương lấy muôn loài. Ngài dạy ta phải buông những toan tính, hẹp hòi, ích kỷ, nhỏ mọn mới có thể đón lấy từ bi, bao dung, độ lượng, vị tha. Ngài dạy ta phải bỏ đi cái ta, cái tôi, chấp vào cái của tôi, mới có thể thực chứng về không, vô ngã, vô tướng, vô tác. Ngài dạy ta phải buông tất cả những phiền não, bất thiện, ác pháp mới có thể chứng đắc Niết Bàn.
Trong cuộc đời hoằng pháp lợi sinh của mình, dù nhận được sự cung kính và trọng vọng của bao nhiêu tầng lớp vua chúa, quý tộc, đức Phật vẫn buông tất cả để dấn bước trên những hành trình mới, gặp gỡ những con người mới, đến những vùng đất mới, để gieo duyên và hóa độ chúng sanh. Mặc cho những hương thất đầy nến thơm và hoa tươi ở các tinh xá như Kỳ Viên, Trúc Lâm hay Lộc Mẫu, đức Phật vẫn an nhiên tịch lặng ngồi thiền nơi gốc cây, hang đá, bờ sông vào những ngày du hóa. Sự từ bỏ của đức Phật là bài học có giá trị muôn đời mà cả nhân loại phải nghiêng mình kính phục. Trong sự từ bỏ ấy đã chứa đựng vô lượng pháp lành, đó là từ bi, trí tuệ, nhẫn nhục, tinh tấn, vị tha…
Sống trong xã hội hiện đại, với vật chất đủ đầy, chúng ta cứ tưởng rằng đó là những điều kiện tốt đẹp hỗ trợ sự thăng tiến trên bước đường tu học. Nhưng đôi khi, chính đó lại là những cái bẫy êm ái và ngọt ngào đẩy ta vào tội lỗi và sa đọa. Một người xuất gia dùng Zalo, Facebook, điện thoại để thuyết pháp độ sanh, ai ngờ một ngày được chúng sanh độ. Thượng tọa Giác Nguyên có một bài thơ khá hay nói về điều này:
Ta chở em qua bờ giải thoát
Em gạt ta sang bến luân hồi
Trên sông hai đứa cùng cười
Thì ra em cũng một người độ sanh
Có những lúc, đức tánh từ bỏ hay xả ly chính là chiếc phao cứu khách trần giữa sông mê biển ái. Đam mê sẽ đi cùng tục lụy. Từ bỏ được chút gì thì sự an lạc sẽ đến ngay trong những khoảnh khắc ấy. Giới, Định hay Tuệ cũng phần nào bao hàm ý nghĩa của từ bỏ. Giới là từ bỏ những thói xấu, ngăn trừ những sai phạm. Định là từ bỏ những phẩm chất thô của tâm để có được những phẩm chất tốt đẹp, an tịnh, trong lành. Tuệ chính là thấu rõ, hiểu rõ, biết rõ bản chất của vạn hữu để từ bỏ. Giải thoát, chính là sự từ bỏ hoàn toàn, buông tay đi giữa cuộc đời như những con người tự do tuyệt đối.
Đời sống tại gia với những tục sự đa đoan, nhưng biết cách từ bỏ cũng là cơ hội để có được bình an và hạnh phúc. Bỏ những bực tức, khó chịu và gánh nặng trong công việc ở sở làm mới có thể vui cười chơi đùa còn con trẻ ở gia đình. Dám khước từ những đam mê và dục vọng nhất thời của bản thân mới có thể giữ nếp nhà êm ấm. Bỏ những lỗi lầm và sai trái của đồng sự mới có thể cho họ cơ hội để sửa sai và phụng sự. Từ bỏ một vài lợi ích trước mắt để có được thành quả lâu dài. Từ bỏ những toan tính cá nhân vì lợi ích chung của tổ chức. Đôi khi, thành công sẽ gắn liền với hạnh phúc, khi biết nhìn xung quanh, quan tâm và giúp đỡ. Có lúc, thành công gắn liền với sự cô đơn, đó là sự thành công được gầy dựng trên mồ hôi của người khác, đứng trên vai bao người để có thể thành công. Sự thành công ấy chỉ đem lại bất hạnh.
Những con đường ngày đông nắng nhạt. Đào nở rộ. Chỉ vài tuần nữa, con đường sẽ vương vãi những cánh đào phai. Hoa đào theo quy luật tự nhiên, lại từ bỏ những nụ hoa tàn úa để khoác lên mình tấm áo non xanh màu lá mới. Đời vô thường là thế, có thịnh ắt có suy, được rồi sẽ mất, đến và sẽ đi. Người yêu hoa sẽ tiếc cho cánh đào phai bay theo gió. Người vô tâm sẽ chẳng để ý gì đến chúng, không biết rằng có sự tồn tại của một mùa hoa rất đẹp. Người tỉnh thức lòng sẽ an, nhìn ngắm hoa đào nở rồi tàn, biết rõ đây là bản chất của chúng. Đào sẽ lại nở vào năm sau.
Lạc Quang Tịnh Cư, Đà Lạt - Trọng Đông 2021.
Tâm Biện
