Bài viết

Điểm Bích – Câu chuyện đã bảy trăm năm

Cập nhật: 29/05/2020
Trong Tam Tổ thực lục có chép, nàng là người “nõn nà chẳng kém gì Phi Yến, khéo léo còn hơn cả Điêu Thuyền… Lại có tính hiếu học, tam giáo cửu lưu, không thứ gì là không thông hiểu… Trường thiên, Ngũ ngôn, hễ mở miệng là thành chương”.
 

Điểm Bích – Câu chuyện đã bảy trăm năm

 

Cho nên khi Vua Minh Tông tâm sự về thiền sư Huyền Quang trước quan hầu cận, tăng quan và đạo sĩ: “Người ta sinh ra trong khoảng trời đất, “cõng âm và ôm dương”, thích ăn ngon, ưa mặc đẹp, lòng ham muốn ấy bọn chúng ta đều có. Còn như gác bỏ một bên lòng ham muốn, dốc lòng phụng sự đạo, là để lo một mặt mà thôi. Vì sao chỉ mỗi một mình thầy Huyền Quang từ khi sinh đến giờ, vẫn sắc sắc không không, như nước không sóng, như gương không bụi, phải chăng Sư đè nén lòng dục, hay là không có lòng dục?” và Mạc Đĩnh Chi liền ứng tâu: “Vẽ cọp vẽ da, xương khó vẽ, biết người biết mặt biết đâu lòng! Xin hãy thử xem vì sao được như thế” thì nàng được chọn làm người để thử lòng thiền sư Huyền Quang.

Thiền sư sinh năm Giáp Dần (1254), quê hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhở, Sư thể mạo kì dị, nhưng có chí khí của bậc vĩ nhân. Ngay từ bé, Sư đã nổi tiếng là học một biết mười, có tài như Nhan Hồi Á Thánh nên được gọi là Tải Đạo. Vào những năm hai mươi, hai mốt tuổi, Sư thi Hương, thi Hội và đỗ thủ khoa. Sử sách còn chép, khi Sư còn ở nhà, mặc dù cha mẹ có định hôn trước nhưng chưa chịu cưới. Sau khi được đỗ khoa, Sư được nhà vua gả Công chúa Liễu Nữ, tức cháu của An Sinh Vương, nhưng Sư cũng khước từ, không chấp thuận. Có lẽ đó cũng là một điều khiến Vua Minh Tông thấy đặc biệt ở Thiền sư từ khi còn chưa có tâm quy Phật, vì vậy mà đã mở lời tâm sự như trên với quần thần. Có lần, Sư theo Vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhãn nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh thì chợt tỉnh ngộ, rồi tự than: “Phú quý vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hạ, há nên lưu luyến mãi!”. Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1305, Sư mới được xuất gia với thiền sư Bảo Phác. Sách sử ghi lại là xuất gia với thiền sư Pháp Loa, nhưng không hợp lý nên trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang đã đính chính lại là xuất gia với thiền sư Bảo Phác.

Từ đó, Sư theo hầu sát Điều Ngự Giác Hoàng, rồi Tổ Pháp Loa. Việc Sư có tài văn chương vốn đã nổi tiếng từ thời làm quan tiếp sứ Trung Quốc, nên những kinh sách mà Tổ Trúc Lâm nhờ Huyền Quang biên khảo lại đều rất hay, đến mức Trúc Lâm khen: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa”. Sau đó, Sư vâng lệnh Nhị Tổ về trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Là người đa văn bác học, tinh thông đạo lý, cho nên học đồ bốn phương quy tụ về tham học Sư không dưới nghìn người. Và đây cũng chính là nơi xảy ra câu chuyện lên núi thử “vàng” của Điểm Bích.

Trước khi đi, Minh Tông gọi Điểm Bích căn dặn: “Vị Tăng ấy vốn không ưa sắc dục, tính tình rất cương trực, giới hạnh lại cao nghiêm. Ngươi có nhan sắc lại có tài ăn nói, vừa thông hiểu sử kinh, vậy hãy đến thử Thầy ấy. Nếu Thầy còn động lòng quyến luyến tình dục, ngươi hãy dụ lấy cho được kim tử làm bằng chứng. Bằng gian trá sẽ bị tội”.

Điểm Bích lên đường lên Yên Tử. Đến chùa Vân Yên, nàng xin một vị tỳ kheo ni già được ở lại để xuất gia học đạo. Qua mấy hôm, thiền sư Huyền Quang thấy người này có tính lẳng lơ, không phải thật tâm cầu đạo, liền cho gọi vị tỳ kheo ni già lên quở trách. Điểm Bích thấy Thiền sư giới hạnh tinh nghiêm, uy nghi lẫm liệt, khó dùng sắc đẹp cám dỗ, chợt nãy ra một kế. Nàng ta ban đêm đến khóc lóc rồi nói với vị tỳ kheo ni già rằng, cô là con gái của một quan viên thu thuế, chẳng may bị cướp cướp hết số tiền thu thuế được trước khi đem nộp vua. Trước kì hạn mà không nạp đủ số tiền thuế thì sẽ bị tịch thu điền sản, đồng thời còn liên lụy đến vợ con. Vì bất dĩ nên nàng đã lên núi cầu giúp. Đại chúng Tăng Ni môn đồ nghe chuyện, ai nấy đều xót thương. Thiền sư nghe chuyện cũng rất cảm thông, bèn tính về triều tâu vua, ngõ hầu mong vua khoan nhượng cho gia đình nàng. Nhưng có một tiểu Tăng nói: “Pháp luật là pháp luật, ông ta không giữ cẩn thận, bị bắt tội là đúng luật công. Nếu vì muốn giúp riêng mà bỏ công pháp thì chẳng phải”. Thiền sư nghe cho là phải, liền đó lấy kim tử đưa nàng để về triều chuộc tội cho cha.

Điểm Bích được kim tử liền về triều, tâu với Vua Minh Tông rằng: “Thiếp phụng chỉ tới thử thiền sư Huyền Quang, khi đến chùa Vân Yên, giả làm con gái thường dân đến xin xuất gia học đạo, thường được dâng trà nước lên Sư. Trải hơn một tháng, Sư chưa từng ngó thiếp hay hỏi han điều gì. Vào một đêm, Sư lên chùa tụng kinh, đến canh ba, Sư cùng đại chúng trở về liêu phòng an nghỉ. Thiếp bèn lẻn đến cạnh Tăng phòng nghe động tịnh, thấy Sư ngâm kệ rằng:

Vằng vặc trăng mai ánh nước,

Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.

Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ,

Mâu Thích Ca nào thử hữu tình.

Sư ngâm đi ngâm lại đến ba lần. Thiếp bèn vào phòng, từ biệt Sư, xin trở về nhà thăm cha mẹ, hẹn năm sau sẽ trở lên xin học đạo. Sư bèn lưu thiếp lại một đêm, tặng thiếp một kim tử”.

Bài thơ mà Điểm Bích tự nói rồi gán cho thiền sư Huyền Quang nghe qua rất tình tứ, trần tục. Cho nên, khi nghe chuyện, Vua Minh Tông hiện mặt rồng không vui. Liền đó cho tổ chức một cuộc đại hội Vô Già tỏ mối nghi ngờ với đầy đủ tạp vật, cà sa, y bát lẫn lộn vàng ngọc, châu báu. Rồi thỉnh Huyền Quang làm chủ lễ. Thấy đàn tràng, Sư biết mình bị oan bèn ngửa mặt lên trời than thầm, rồi lên đàn ba lần, xuống đàn ba lần. Bỗng gió trời nổi mù mịt, một lát thì mọi tạp vật trên đàn đều bị cuốn phăng, chỉ còn lại hương đăng lục cúng. Vua và triều thần tận mắt thấy, thất sắc kinh hoàng, liền lạy xuống tạ tội, rồi xưng Sư là Tự Pháp, và phạt Điểm Bích làm tỳ nữ quét tước một ngôi chùa trong nội điện cung Cảnh Linh.

Chuyện Điểm Bích vu oan thiền sư Huyền Quang cũng đã gần bảy thế kỷ. Nếu đi sâu vào cuộc đời và đạo nghiệp của Thiền sư, chúng ta sẽ thấy, Tổ đúng là bậc mà như trong lời tựa bản Tam Tổ thực lục được khắc lại vào năm Thành Thái thứ chín (1897) có ghi: “văn chương gấm vóc, bút pháp độc đáo, có tài trí của bậc Á Thánh siêu quần, giới luật tinh nghiêm, ba học cần mẫn, có đức độ của bậc Thần Tăng trác việt”. Là một vị Tổ Trúc Lâm, nhưng Huyền Quang có phong thái của một vị thiền sư “cao sơn” hơn Sơ Tổ Điều Ngự và Nhị Tổ Pháp Loa. Thiền sư thích ở rừng núi, với tâm hồn rất đẹp, rất bình dị với “hoa cúc và cây sáo”. Cũng có ý cho rằng, đó cũng chính là một phần khiến Giáo hội Trúc Lâm thời ngài phần nào không được hưng thịnh như thời đầu. Nhưng hình ảnh thiền sư Huyền Quang hiện lên một cách tiêu sái, thoát tục, uy nghiêm vẫn luôn khiến cho hàng hậu lai noi theo, học hỏi.

Tâm Chung

Tin tức liên quan

THEO BỤT TA ĐƯỢC GÌ?
18/10/2024
NGUYỆN THOÁT KHỎI TAI ƯƠNG
16/09/2024
NGƯỜI TU THẬT – TUYỆT ĐẸP
10/09/2024
CHÙA TO – PHẬT LỚN
03/09/2024
Trên ngực con đượm buồn màu bông trắng…
13/08/2024