Duyên khởi và tam pháp ấn

Giáo lý duyên khởi là một trong những giáo lý quan trọng được đức Phật thuyết giảng trong nhiều trường hợp khác nhau trong suốt bốn mươi lăm năm hoằng pháp. Duyên khởi và duyên hệ giải thích bản chất của dòng chảy luân hồi. Khi hiểu rõ về từng mắt xích của lý duyên khởi, chúng ta sẽ thấu triệt về bản chất tam tướng của vạn hữu, chứng nghiệm lý Tứ Đế. Bởi lẽ, khổ (dukkha), vô thường (anicca) và vô ngã (anatta) là bản chất chung chung của vạn pháp, nên từng chi phần của duyên khởi không nằm ngoài tính chất ấy. Để hiểu rõ lý duyên khởi không phải là điều dễ dàng, trong kinh Đại Duyên thuộc Trường Bộ kinh có chép lại một câu chuyện để minh chứng cho điều này. Một lần nọ, sau khi xuất khỏi thiền quả định, tôn giả Ananda suy nghiệm về giáo lý duyên khởi rồi đến bạch đức Phật rằng: “Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy, và giáo pháp này đối với con hết sức minh bạch rõ ràng”. Đức Phật dạy: “Này Ananda, chớ có nói vậy! Này Ananda chớ có nói vậy! Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử”.
Theo chú giải, điều ngài Ananda trình bày với đức Phật giống như việc người ta muốn giơ tay lên chạm vào cõi Phạm thiên cao nhất, hoặc như người muốn lấy móng tay đào núi hay như người muốn chẻ trái đất này ra. Tùy theo trình độ nhận thức, độ sâu dày của việc vun bồi Ba-la-mật và sự giác ngộ của mỗi người mà có sự sai biệt trong nhận thức về giáo lý. Khi viết về giáo lý duyên khởi trong bộ Thanh Tịnh Đạo, ngài Buddhaghosa nói rằng mình chỉ dám trình bày những lời bình với sự trợ giúp của những chú giải cổ xưa, bản thân ngài không dám giảng dạy giáo lý này nếu chỉ dựa trên khả năng của chính mình. Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc học hỏi về giáo lý duyên khởi, ngài Silananda, một thiền sư và là học giả uyên bác của Miến Điện, khi trình bày về duyên khởi đã đưa ra một nhận định: “Nếu không nắm bắt được lý duyên khởi (Paṭicca-samuppāda) một cách đúng đắn và thích ứng, việc thoát khỏi vòng luân hồi sẽ là một chuyện bất khả thi”.
Duyên khởi là vòng tròn sinh tử của chúng sinh, nhưng được hiểu là hình xoắn ốc thay vì là một đường tròn, bởi lẽ duyên khởi phải được nhận định trong ba thời điểm (kāla) là quá khứ, hiện tại, vị lai. Định thức duyên khởi được trình bày một cách phổ biến nhất là:
Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Luân hồi là một sự quẩn quanh trong vòng tròn duyên khởi và giải thoát là cắt đứt, chấm dứt và thoát ra khỏi vòng sinh tử ấy.
Vô minh duyên hành.
Khi nói vô minh duyên hành, không có ý nghĩa vô minh là nhân đầu tiên, nhân gốc, bởi lẽ giáo lý của đức Phật không chủ trương có một nhân sơ khởi nào đó. Đức Phật chỉ bắt đầu giải thích lý Duyên Khởi từ Vô Minh. Vậy, vô minh sinh khởi từ đâu? Cái gì làm cho vô minh sanh lên? Trong chú giải bộ Pháp Tụ và một số bài kinh, điển hình là kinh Chánh Tri Kiến, có chỉ rõ: “Vô minh sanh lên do bởi các lậu hoặc sanh lên; vô minh đoạn diệt do bởi các lậu hoặc đoạn diệt; chính đạo lộ tám chi phần cao thượng này là con đường đoạn diệt vô minh, đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định”. Vậy, vô minh có nguồn gốc từ bốn lậu: dục lậu (Kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), kiến lậu (diṭṭāsava) và vô minh lậu (avijjāsava).
Vô minh là gì? Đó là sự không hiểu biết, trạng thái tội lỗi đối nghịch với trí tuệ. Theo Thắng Pháp, vô minh lấy tâm sở si làm gốc. Tâm sở si thường kết hợp với mười hai tâm bất thiện là: tám tâm tham, hai tâm sân, tâm si hợp hoài nghi, tâm si hợp phóng dật. Vô minh không chỉ hỗ trợ cho bất thiện mà nó còn hỗ trợ cho cả những hành động thiện. Một hành động tốt, nhưng nếu không có trí tuệ soi chiếu, thì vô minh vẫn âm thầm có mặt, thúc đẩy cho hành động thiện ấy đưa đến những kết quả tốt đẹp, nhưng đó chỉ là sự bám chấp vào một hiện hữu mới, cầu mong quả lành và tái sanh ở cảnh giới tốt đẹp. Vô minh kết hợp với Dục Ái, Hữu Ái và Phi Hữu Ái để hình thành nên vòng luân hồi bất tận. Thế nên, vô minh thường rất khó để nhận diện trong những hình thức vi tế của nó. Tuy vậy, vô minh không phải là pháp thường hằng, chịu sự sanh diệt, thế nên vô minh có cả ba đặc tính là khổ, vô thường và vô ngã.
Vô minh còn được giải thích là sự bất tri về ba điều: Tứ đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) và Giáo Lý Duyên Khởi. Chính vì vô minh mà ba Hành sinh khởi: Phúc Hành, Phi Phúc Hành và Bất Động Hành. Khi không biết rõ về bản chất của dòng luân hồi, đời sống của chúng sanh là sự quẩn quanh của thiện, ác, buồn, vui. Phúc Hành là sự đi tìm hạnh phúc trong các cõi lành bằng tâm thiện và tâm thiền Sắc giới. Phi Phúc Hành là sống bằng tâm bất thiện nên bị trầm luân trong cõi khổ. Bất Động Hành là việc chứng đắc các tầng thiền Vô Sắc và sinh về những cõi trời Vô Sắc. Chúng sinh khi chưa chấm dứt vô minh nên trôi lăn từ cảnh giới thấp nhất là địa ngục cho đến sinh lên cảnh trời cao nhất là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Dù ở cảnh giới cao nhất thì khi hết phước vẫn tiếp tục sinh tử, đó là sự tiềm tàng của khổ, vô thường và vô ngã.
Chữ “Hành” (Saṅkhāra) là một thuật ngữ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy theo từng trường hợp mà hiểu. Ví dụ câu “các hành là vô thường” (sabbe Saṅkhāra aniccāti), lúc này hành ám chỉ cho tất cả pháp hữu vi, bao gồm cả danh và sắc. Trong thuật ngữ hành uẩn (Saṅkhārakkhandha), thì chữ “hành” lại chỉ cho các thành tố tâm lý là năm mươi tâm sở trừ thọ, tưởng. Trong giáo lý duyên khởi, chữ hành trong vô minh duyên hành (Avijjāpaccaya Saṅkhāra) lại chỉ cho tâm sở tư (cetanā) có tính tạo sinh, đó là động cơ thúc đẩy và nó kích thích hành động.
Hành Duyên Thức.
Thức chính là tâm tái tục (paṭisandhi) vào các cõi giới. Bất cứ hành động thiện ác nào của chúng ta đều để lại quả, đó là quy luật tất yếu của đời sống. Chúng ta có thể ví von đời sống của mỗi người được ví như người nông dân, gieo hạt trên cánh đồng sinh tử. Mỗi ý niệm thiện ác đều để lại quả. Nghiệp quả do nhân thiện ác có hai loại: thời bình sinh và thời tái tục. Thời bình sinh đó là những quả trổ ngay trong đời sống của kiếp người: đẹp, xấu, sang, hèn, giàu, nghèo, may mắn, bất hạnh… Quả thời tái tục chính là kiết sanh thức sinh khởi sau tâm tử, đưa chúng ta vào các cảnh giới khác nhau. Thức tái sanh do chính tư tác (cetanā) hay hành nghiệp chi phối, quy tụ năng lượng ở chập tư tưởng cuối cùng ở kiếp sống trước để quyết định việc tái sinh ở đời sống tiếp theo.
Thức Duyên Danh Sắc:
Ở thời điểm đầu của kiếp sống, thức tâm sinh khởi cùng với các tâm sở và sắc do nghiệp sinh để tạo thành một chúng sinh. Khoa học hiện tại chỉ mới khám phá được rằng ở thời điểm thụ thai có sự kết hợp sắc chất của cha và mẹ để hình thành nên phôi. Nhưng họ đâu thể ngờ rằng thời điểm đó còn có sự tồn tại của những yếu tố tinh thần mà bằng mắt thường hay các công cụ khoa học tiên tiến nhất cũng không thể thấy được. Chỉ với tuệ giác của Thế Tôn và các Bậc Thánh mới có thể thực chứng và nhìn nhận chúng một cách rõ ràng. Ở đây, danh chính là những tâm sở đồng sanh và sắc là những nhóm sắc do nghiệp tạo ở thời điểm tái tục, tùy cảnh giới khác nhau mà danh sắc có sự sai biệt. Thức không phải là nhân cho danh sắc mà cả ba điều: thức, danh và sắc sinh khởi trong cùng một thời điểm. Mối quan hệ của chúng là câu sanh duyên và y chỉ duyên.
Danh Sắc Duyên Lục Nhập:
Lục nhập là sáu nội xứ và sáu ngoại xứ. Sáu nội xứ là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu ngoại xứ là sáu cảnh: màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và đối tượng tư duy.
Sau thời điểm tái sinh là đã có một chúng sinh tượng hình, nói cho dễ hiểu thì nhờ danh sắc đầu đời mà hình thành dần nên sáu căn, tùy loài mà sớm hay muộn. Đối tượng của lục căn là lục trần, từ đó mà phát sinh nên sự nhận thức cảnh và các tiến trình của tâm thức (lộ trình tâm).
Lục nhập duyên xúc:
Sự va chạm hay họp mặt giữa mắt, cảnh sắc và nhãn thức chính là nhãn xúc. Tương tự cho các giác quan còn lại. Nhìn lại đời sống của chúng ta chỉ là những phút giây trùng phùng của ba điều là Căn, Cảnh, Thức. Có lúc chúng ta nhìn, có khi chúng ta nghe, và sự va chạm giữa làn da và môi trường bên ngoài là điều gần như liên tục. Do đó, khi nói về xúc, trong kinh đức Phật ví chúng sinh như một con bò bị lột da bị những côn trùng bâu vào cắn chích. Chúng sanh vì có sự tồn tại của các căn bị trần cảnh xâm nhập, từ đó xúc luôn có mặt. Trong thắng pháp, xúc (Phassa) là một tâm sở biến hành có mặt trong tất cả tâm.
Xúc duyên thọ:
Khi có sự va chạm giữa căn và cảnh, cảm thọ xuất hiện. Đó là cảm giác tiêu cực hay tích cực trước đối tượng. Thọ có khi được chia làm năm: khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Nhưng khi gom gọn thì cũng có thể nói thọ có ba, hay một tùy trường hợp. Chữ Thọ (Vedanā) có nghĩa là sự cảm nghiệm. Tâm sở thọ là một tâm sở có mặt trong tất cả các tâm, đó cũng chính là thọ uẩn trong ngũ uẩn. Không có khoảnh khắc nào trong đời sống mà chúng ta không có sự cảm nghiệm. Giáo lý duyên khởi trình bày rằng khi các căn tiếp xúc các trần thì thọ lập tức có mặt và làm duyên cho tham ái.
Thọ duyên ái:
Một điều rất dễ hiểu là khi có cảm thọ dễ chịu thì chúng ta cảm thấy thích thú, khi cảm thấy điều gì khó chịu thì chúng ta lại bực mình, muốn thoát khỏi nó và muốn có được cảm xúc dễ chịu. Do đó, ái có mặt trong cả hai trường hợp: muốn bám giữ cảm giác dễ chịu và muốn xa lìa cảm giác khó chịu. Đối với cảm thọ trung tính cũng có sức hút mà chúng ta muốn bám giữ. Thế nên, dù trong khoảnh khắc nào của đời sống thì tham ái cũng sẵn sàng hiện diện. Tu tập minh sát hay quán tứ niệm xứ là hành trình dừng lại và theo dõi tiến trình như thật của cảm thọ như chúng thật là. Từ đó thoát ly được phiền não tham, sân.
Ái duyên thủ:
Ái chỉ là sự dính mắc khi trải nghiệm cảnh, nhưng khi sự mắc vươn lên một tầm cao mới, cấp độ mới, hay nói cách khác là tăng về mức độ thì nó trở thành thủ. Thủ là sự tham ái và tà kiến trở nên mạnh mẽ, chấp giữ nặng nề, đam mê, dính chặt.
Thủ duyên hữu:
Hữu có hai là nghiệp hữu và sanh hữu. Khi thủ đủ mạnh sẽ đưa chúng sanh vào dòng luân hồi. Hành tạo ra thức và danh sắc là thời quá khứ, nghiệp hữu hiện tại tạo ra sanh hữu trong tương lai. Khi nghiệp hữu thiện thì tạo ra sanh hữu là quả thiện, tái tục ở cảnh giới tốt. Khi nghiệp hữu bất thiện tạo nên sanh hữu bất thiện, cảnh giới đọa lạc.
Hữu duyên sinh:
Sự xuất hiện của sanh hữu trong kiếp sống mới là sanh, đó là kết quả của nghiệp hữu. Sự sanh ấy bao gồm: thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ của kiếp sống vị lai. Ở thời vị lai, thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ là quả, còn nhân trong hiện tại để tạo kiếp sống mới đó chính là ái, thủ, hữu.
Sinh duyên lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Khi có sự xuất hiện của một chúng sanh, sự già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não nhất định có mặt, không sớm thì muộn. Đó là một nghiệp phận không rời, bởi lẽ đời sống và vòng luân hồi đầy dẫy những bất trắc.
Xuyên suốt từng chi phần hay mắt xích của giáo lý duyên khởi, hoàn toàn vắng mặt một cái tôi hay bản ngã, cũng như không có một đấng nào can thiệp vào, đó chỉ là một tiến trình nhân-duyên-quả. Từ đó cho thấy yếu tố vô ngã tính trong giáo lý nhân duyên. Mỗi một mắt xích không hề tồn tại lâu dài mà chúng luôn sinh diệt, chuyển dời từ trạng thái này sang trạng thái khác, đó chính là đặc tính vô thường của vạn pháp.
Cuối cùng, chúng ta có thể nhìn nhận rằng các chi phần trong duyên khởi đã hiển bày một trạng thái bị thúc đẩy, không ngừng chuyển hóa, đó chính là ẩn tàng giáo lý khổ (dukkha). Chú giải ghi lại rằng khi ngồi dưới cội bồ đề, trên nền tảng định của tứ thiền, đức Phật chứng đắc Thiên Nhãn Minh và Túc Mạng Minh, Ngài thấy chúng sanh trôi lăn trong sinh tử và tìm ra nguyên nhân của sự trôi lăn đó. Thế rồi, bằng trí tuệ minh sát dưới ánh sáng của định, Ngài đã quán chiếu ba đặc tính khổ, vô thường, vô ngã trên mười hai yếu tố của nhân duyên trên một nghìn tỉ lần. Từ đó, Ngài chứng đắc Phật quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Phần đầu bộ Đại Phẩm của Luật Tạng kể lại rằng ngay sau khi thành đạo, trong tuần lễ đầu tiên, đức Phật cũng đã quán tưởng về giáo lý Duyên khởi rồi thốt lên những lời cảm hứng ngữ. Cho thấy tầm quan trọng của giáo lý này. Chúng ta có thể tìm thấy giáo lý duyên khởi ở cả ba tạng Kinh, Luật và Luận, đặc biệt phần duyên khởi và duyên hệ giải thích rất chi tiết trong Luận Tạng. Tầm vóc của duyên khởi to lớn như thế chỉ để đưa đến mục đích duy nhất là giúp chúng sanh thấu triệt lẽ tam tướng: Khổ, vô thường, vô ngã và chứng đắc Đạo, Quả, Niết Bàn.
Tài Liệu tham khảo:
- Phật học căn bản, Minh Đức Triều Tâm Ảnh.
- Trường Bộ kinh, kinh Đại Duyên, Hòa thượng Minh Châu dịch.
- Cẩm Nang Nghiên Cứu Thắng Pháp, tập 3, U. Silananda, Pháp Triều dịch.
- Phân tích Duyên khởi theo Duyên Hệ, Dr Nandamālābhivaṁsa, Pháp Triều dịch.
- Trường bộ kinh giảng giải, sư Giác Nguyên.
- Buddha Abhidhamma Ultimate Science, Mehm Tin Mon, sư Giác Nguyên dịch.
- Pháp Duyên khởi, Mahasi Sayadaw, sư Minh Huệ dịch.
- Duyên khởi và Vô ngã, Thích Chơn Thiện.
- Luật Đại Phẩm, Indacanda dịch.
Tâm Biện
