Đến cửa chùa rũ bỏ trần duyên tính xấu
Vào điện Phật giữ gìn mối đạo tâm lành.
Bài viết
Hẹn ước
Cập nhật: 30/08/2019
Sau khi thành đạo, đức Phật về thành Xá-vệ thuyết pháp tế độ cho thân quyến rồi chấp nhận cho bà Kiều-đàm-di và 500 quý phu nhân hoàng tộc xuất gia. Xuất gia được một thời gian, bà Kiều-đàm-di là người đầu tiên đắc quả A-la-hán. Còn về phía các vị Tỳ-kheo-ni, đức Phật giao cho chư Tăng luân phiên từng vị đến thuyết pháp.
Một hôm, đến phiên Đại đức Nandaka thuyết pháp (Trung Bộ Kinh 142, kinh Giáo Giới Nandaka), nhưng Đại đức từ chối. Trong Chánh Tạng không có nêu rõ nguyên nhân nhưng nhờ vào Chú Giải (Aṭṭhakathā) cho ta biết thêm lý do Đại đức Nandaka từ chối. Do đã đắc A-la-hán, có Túc mạng thông, nên Đại đức Nandaka biết rõ rằng 500 vị Tỳ-kheo-ni này chính là vợ cũ trong những kiếp trước. Vì lòng bi mẫn, không muốn mấy vị, phàm có chút thần thông, nảy sinh những suy nghĩ bất kính với Thánh nhân. Họ có thể sẽ nghĩ Đại đức nhận lời vì vui thích khi gặp gỡ “cố nhân”.
Với Nhất thiết trí, đức Phật thấy rõ nhân duyên chứng đạo của các vị Tỳ-kheo-ni đã đến, nên đề nghị Đại đức Nandaka đi thuyết pháp. Và đây có lẽ là trường hợp hy hữu trong tam tạng kinh điển, khi trong hai ngày liên tiếp (ngày 14 và 15), cùng một bài pháp chỉ có một nội dung duy nhất, cùng một hội chúng nhưng hiệu quả vô cùng. Ngày 14, tất cả các vị Tỳ-kheo-ni đắc quả Tu-đà-hoàn, và ngày tiếp theo thì tất cả chứng quả A-la-hán.
Chúng sinh trong tam giới có thể tóm gọn trong hai loại kết duyên. Thứ nhất là kết duyên thông qua tham hoặc sân để rồi gặp nhau trong ràng buộc, quyến luyến, ân oán, tình thù… người này kéo người kia trôi nổi trong dòng sinh tử luân hồi. Điển hình như trường hợp của Đề-bà-đạt-đa và vua A-xà-thế, một người muốn giết Phật còn một người muốn giết cha; hay như nàng Ciñcā độn bụng chửa vu oán cho Phật. Đó là những kiểu kết duyên tạo nghiệp tự đưa bản thân đến con đường địa ngục, khổ cảnh, trầm luân.
Thứ hai là kết duyên để đưa nhau đi lên. Như các vị Xá-lợi-Phất, Mục-kiền-liên, Ca-diếp là kết duyên lành với đức Phật, cùng thực hành phước thiện, thành tựu viên mãn các Ba-la-mật để đưa nhau đi lên, đi đến giác ngộ, giải thoát. Trong câu chuyện kể trên, 500 vị Tỳ-kheo-ni sinh ra trong dòng họ Thích-ca nhưng họ không có duyên đắc đạo với đức Phật hay những vị Thánh nhân như Đại đức A-nan, A-na-luật… mà chỉ có duyên với Đại đức Nandaka. Tuy tiền thân là những người vợ cũ, nhưng quá khứ họ luôn sống với lòng quý trọng, tôn kính người chồng cũ, ân tình này vượt lên trên những tình cảm nhi nữ thường tình, nên đời nay gặp lại, với lời pháp của Đại đức Nandaka, họ dễ dàng chú tâm lắng nghe và thấu hiểu như những lời của người tri âm tri kỷ.
Thế nên, ngày hôm nay, những suy nghĩ, lời nói hay hành động của chúng ta dù nhỏ nhất, cũng đều là hình thức gieo duyên cho ta và người trong đời sau kiếp khác. Từ ánh mắt đến một nụ cười, với người, cũng là hình thức gieo duyên. Nụ cười đôi khi chỉ là nụ cười, nhưng có lúc phía sau đó, là những mầm sống của tham ái để đưa nhau đi tiếp trong dòng sinh tử luân hồi. Như vậy, sống ở đời, mình muốn kết duyên để giúp nhau hay hại nhau, đưa nhau cùng đi lên hay đi xuống là do chính bản thân mỗi người tự quyết định.