Bài viết

Lời cảm cho một tập sách

Cập nhật: 02/11/2019
Những ngày hè tháng sáu, Hà Nội trở mình với những cơn nắng oi ả, mang theo cái cảm giác bức bối, khó chịu cho cả người lớn lẫn trẻ con. Ấy thế mà khi được nghe tin vui từ người sư đệ báo: “Anh Lực ơi! Anh đã biết chuyện gì chưa? Sư Phụ đã ra thất và trở về chùa lại rồi”, con đã không biết diễn tả cảm xúc lúc đấy như thế nào. “Vui sướng ư? - Có đấy! Hạnh phúc chăng? - Tràn đầy!” Vì bao lâu nay con đã chờ đợi ngày Sư Phụ trở về. Có lẽ cái nóng Hà Nội lúc này đã không còn làm con khó chịu như trước nữa. Con chỉ mong sao tổ chức thật tốt các khóa tu mùa hè đang dang dở ngoài này để được sớm trở về bên Thầy, bên đại chúng.
 

Lời cảm cho một tập sách

 

Niềm vui khi được trở về mái già lam Hoằng Pháp, nơi chốn tổ thân yêu chỉ đơn giản rằng mỗi sớm thức dậy được ngắm nhìn nụ cười từ hòa của Thầy, được lắng nghe từng bước chân thầm lặng chăm lo chúng con trong đêm trường mộng mị và đơn giản mỗi khi nhìn vào phòng Thầy chúng con có cảm giác ấm lòng, không còn bơ vơ trống vắng như xưa. Dẫu biết ánh sáng ngọn đèn không thể soi tỏ hết cho cả căn phòng, nhưng có một người đang ngồi đấy thắp sáng lên “một ngọn đèn trí tuệ” để mong sao chính từ ngọn đèn ấy: “Thầy truyền đăng tục diệm” cho bao thế hệ mai sau.

Ngày ra thất, món quà Thầy muốn gửi đến cho đại chúng là một tập sách: “Chó Rừng Và Sư Tử”. Thầy khuyên mỗi chúng con nên đọc qua, tư duy và suy nghĩ những vấn đề được thầy nhắn nhủ trong ấy. Lật từng trang sách trên tay, đọc từng bài viết trong đấy, chúng con như cảm nhận được rằng đây như một đứa con tinh thần, là tâm huyết, là thành quả kết tinh lòng từ và trí tuệ mà thầy muốn gửi gắm đến bao hàng đệ tử.

Chúng con cảm nhận được nơi Thầy: Là một hành giả tu học theo tư tưởng Bắc tông, nhưng thầy luôn biết dung hòa, học hỏi từng cái hay giữa hai truyền thống để đem vào ứng dụng tu tập và hoằng dương chánh pháp. Con từng nghe Thầy dạy: “Học tu theo giáo lý Nguyên Thủy, hoằng pháp theo chí nguyện Đại Thừa” đây là cái hay của một người học Phật, không phải chỉ vì mình đang theo một tư tưởng, một tông phái mà mình xiển dương nó để rồi có quyền triệt hạ, bêu xấu những cái mình không theo. Nếu xem Phật giáo Nguyên Thủy là gốc, là thân cây thì Phật giáo Phát Triển được ví như cành lá xum xuê đem bóng mát cho đời. Cái này hỗ tương cái kia, cái kia vun bồi cái nọ, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Mỗi phần tạo nên một giá trị riêng nhưng khi biết dung hòa, kết hợp với nhau sẽ tạo nên những điểm sáng cho đạo Phật. Trăm sông đều chảy về biển lớn và vị của biển chỉ duy nhất “vị mặn”. Cũng vậy, tất cả pháp môn tu học, hành trì nếu đúng theo lời huấn thị của đức Thế Tôn sẽ luôn đến được bến bờ giải thoát. Phật giáo có phân chia ra các bộ phái, mỗi người có thể chọn cho mình một truyền thống tu tập khác nhau nhưng bản chất đặc trưng vốn sẵn có trong lời Phật về: “Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tứ niệm xứ, nhân quả,…” đều có điểm chung nhất. Đó là hướng chúng sinh đến sự giải thoát, an vui, Niết-bàn. Vì vậy, hành giả tu tập cùng một chí hướng giải thoát, cùng tôn thờ đức Bổn Sư Thích Ca, cùng hành trì giáo lý giác ngộ phải luôn yêu thương, giúp đỡ, sống theo tinh thần lục hòa nhằm góp phần xây dựng một đạo Phật thống nhất, đem an vui hạnh phúc đến cho bản thân, gia đình và xã hội.

Bên cạnh đó, mỗi người trong chúng ta cần có một chánh kiến trên bước đường tu học. Chánh kiến là một sự hiểu biết đúng đắn, rõ ràng và sâu sắc, cái hiểu chân chính và đa chiều. Đó là sự hiểu biết dựa trên nền quy luật quyền năng nhất của vũ trụ – “Luật nhân quả và duyên khởi”. Chánh kiến còn là cái nhìn, cái hiểu biết như thật và thấu suốt về mọi hiện tượng mà ở đó không có quan niệm của cái ngã xen vào, là như thật pháp. Khi có được sự hiểu biết này, chúng ta sẽ bước đi ung dung trên con đường đời đầy chông gai, chúng ta hiểu rõ mình cần làm gì để vượt qua mọi cám dỗ của cuộc sống và quan trọng nhất là chiến thắng chính bản thân mình. Ngay như việc tu hành để thành Phật cũng là một quá trình trải qua trong vô lượng kiếp, hành trì đầy đủ mười Ba-la-mật. Đến kiếp cuối cùng, hành giả tu tập ấy phải đầy đủ 32 tướng tốt. Thử hỏi lại chính mình đã tu tập đầy đủ mười Ba-la-mật hay chưa, thân hình có tướng tốt nào không, mà muốn thành Phật ngay trong hiện tại? Chính vì suy nghĩ sai lầm này, biết bao người đã ngộ nhận trên bước đường tu tập. Họ tách rời đại chúng, không nghe lời thầy tổ, lao vào tu như những con thiêu thân. Họ chọn những nơi rừng thiêng, nước độc, hay tận cùng hang hóc, ngõ hẻm để chọn cho mình lối sống độc cư. Họ nghĩ chỉ có như thế mới sớm thành tựu Phật quả. Nhưng có ai tự suy ngẫm từ khi đức Phật Bổn Sư Thích Ca nhập Niết-bàn đến nay đã xuất hiện thêm vị Phật nào chưa? Rõ ràng thực tế cho chúng ta thấy chưa hề! Vậy mà biết bao người đang suy nghĩ và chọn cách sống đấy để sớm thành Phật? Bởi vậy, tùy theo căn cơ, trình độ, nhân duyên tu học của mỗi người mà đức Phật khuyên nhủ, tán thán, khuyến khích đời sống viễn ly, độc cư tại các trú xứ xa vắng. Ngược lại, tùy theo người mà đức Phật khuyên không nên tu tập một mình nơi núi rừng hoang vu, có thể bất lợi và nguy hiểm. Chúng ta phải luôn tư duy, suy nghĩ về những gì mình đang tu tập, hành trì bằng lăng kính của chánh kiến mới ngõ hầu kiến đạo!

Thông qua sự trích dẫn từ những lời đức Phật dạy trong kinh tạng và sự lập luận của Thầy đã cho chúng con sáng tỏ hơn về chính mình. “Phật là Phật, ta là ta” không thể bắt chước mà thành được. Như bài kinh Ba Lê nói về chó rừng và sư tử: “Chó rừng có bắt chước giống sư tử cỡ nào cũng không vì thế mà trở thành sư tử được”. Chó là chó. Sư tử là sư tử. Mãi mãi không thể thay đổi được. Cũng vậy, chúng ta đang là một chúng sanh mãi trôi lăn trong vòng xoáy luân hồi, nếu không thực hành mười Ba-la-mật thì làm sao có thể thành Phật được. Từ quan điểm này, chúng ta có thể hiểu thêm một người tâm không phải người xuất gia, thân không gìn giữ giới luật, chỉ giả danh đứng trong hàng ngũ Tăng chúng để thọ nhận lợi dưỡng, và họ tự suy nghĩ thỏa mãn với chính mình, tự cho mình là vị Tỳ-kheo thanh tịnh như pháp, điều này quả thật viển vông, tự lừa dối chính mình. Như một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò” nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: “Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò” (Trích kinh Tăng Chi, phẩm Sa Môn, bài kinh Sa Môn). Dù nó có bắt chước giống thế nào đi chăng nữa thì bản chất nó vẫn là con lừa. Một người giả danh, mượn đạo tạo đời, lấy tấm y khoác trên thân rồi tự nghĩ mình là một Tỳ-kheo chân chính. Việc làm của họ có thể khiến cho mọi người tin bởi hình dáng bên ngoài nhưng bản chất họ chỉ là một người đang tự lừa dối chính mình.

Ở một phương diện khác, thông qua bài kinh Tệ Túc đức Phật đã nhắn nhủ đến cho chúng ta bài học vô cùng thiết thực và quý giá. Bởi những gì mình học, mình thực hành và suy nghĩ trước đây nếu chưa đúng. Nhưng sau khi gặp được chánh pháp thì chúng ta cần mạnh dạn thay đổi, tiếp thu, để đi đúng đường trên lộ trình tu tập. Nếu chúng ta có cái nhìn đúng sẽ không sai đường lạc lối và dễ dàng thăng hoa trên bước đường tu học. Ngược lại, nếu chúng ta vô minh, cố chấp không chịu cải đổi cái sai, cái không đúng, thì làm sao thấy được đạo mầu? Khi ấy, không chỉ gây khổ cho bản thân mà vô hình trung có thể làm biết bao nhiêu người phải hệ lụy theo mình. Như người mù dẫn đường, vì không thấy nhưng vẫn cố chấp chỉ lối đưa đường cho mọi người, dẫn đến cái nạn hầm hố, hiểm nguy.

Là người học Phật, chúng ta cần có chánh kiến để phân biệt giữa các pháp chơn ngụy, chánh tà, hư vọng,... để tìm cho mình con đường tu học và hành trì đúng đắn. Dù cho tư tưởng Bắc truyền hay Nam truyền cũng đều có hai mặt của nó. Nếu chúng ta chỉ biết nhìn vào mặt tiêu cực, để rồi lên án, chỉ trích hay cổ súy theo đó là điều không đúng với tinh thần học Phật. Chúng ta phải biết nhìn nhận cái sai để sửa đổi, cải tiến, thấy được điều hay, lẽ phải để tăng trưởng, phát triển. Trước khi phán xét điều gì, chúng ta nên tìm hiểu thật am tường, rõ ràng tránh a dua theo một định kiến, một lối mòn tư tưởng, một khẳng định cổ nhân mà quên đi bản chất của chúng. Ví như một số quan niệm, phê phán, chỉ trích cho rằng Phật giáo Bắc truyền tổ chức các việc cầu an, cầu siêu, hằng thuận là phi pháp, không đúng với thánh điển hay Phật giáo Nam truyền chỉ tu tiểu thừa, lấy lợi ích cá nhân lên hàng đầu. Nếu suy xét kỹ những lời dạy của đức Thế Tôn trong kinh tạng Nikaya chúng ta có thể thấy được những bài kinh đã được Ngài đề cập, giảng giải. Về sau, những tư tưởng này được chư tổ phương tiện khéo léo, ứng dụng trong việc hoằng pháp lợi sinh hữu hiệu nếu biết khai thác đúng cách. Tuy nhiên, tất cả phải xuất phát từ tấm lòng vị tha cao cả, không tư lợi cá nhân, luôn lấy lợi ích chúng sanh lên hàng đầu. Nếu không khéo léo thì những phương tiện này chẳng khác như con dao hai lưỡi, bị các đối tượng bất chính lợi dụng mưu sinh, đưa con người đến chỗ mê tín dị đoan để chuộc lợi cá nhân. Đây là một điều đáng lên án và phê phán, không đúng với tư tưởng giáo lý tình thương và sự hiểu biết mà đức Thế Tôn truyền trao.

Những trang sách dần khép lại, nhưng đã mở ra cho chúng con rất nhiều bài học vô cùng bổ ích. Cầm cuốn sách trên tay, chúng con ngồi chiêm nghiệm, suy ngẫm về chặng đường tu tập phía trước. Tập sách đã phần nào tháo gỡ những khúc mắc, chướng ngại, rào cản mà chúng con tương lai sẽ gặp phải trên bước đường hành đạo. Bên cạnh đó, giúp chúng con có thêm cái nhìn nhận đúng đắn, để không trở thành những “bóng ma quá khứ” hiện về trong xã hội ngày nay.

Trời khuya dần, hơi lạnh buông xuống, con nhìn về căn phòng của Thầy, vẫn còn ánh đèn ấm áp in bóng lên vách tường, là dáng người cặm cụi đắm mình trong những trang kinh, về những lời di huấn của Thế Tôn như vọng về từ phương trời cổ Ấn, vì sự nghiệp truyền đăng tục diệm, vì tương lai Phật pháp mai này. Mong rằng pháp thể Thầy mãi khinh an, vun bồi hạt giống trí tuệ để mở ra cho chúng con những lộ trình tu tập chân chính.

Tâm Lực

Tin tức liên quan

THEO BỤT TA ĐƯỢC GÌ?
18/10/2024
NGUYỆN THOÁT KHỎI TAI ƯƠNG
16/09/2024
NGƯỜI TU THẬT – TUYỆT ĐẸP
10/09/2024
CHÙA TO – PHẬT LỚN
03/09/2024
Trên ngực con đượm buồn màu bông trắng…
13/08/2024