Đến cửa chùa rũ bỏ trần duyên tính xấu
Vào điện Phật giữ gìn mối đạo tâm lành.
Bài viết
Nhân sinh thế sự, dừng lại hay bước tới
Cập nhật: 03/09/2019
Ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, lẽ ra người ta phải sống trong sự hiếu dưỡng, sum vầy cháu con. Thế nhưng, thế sự vô thường, nhân sinh một kiếp phù du!
Sáng nay, đọc được bài báo nói về cuộc đời của cụ bà bán hàng rong sống cạnh nhà vệ sinh công cộng ở Hà Nội mà không khỏi bùi ngùi, ngẫm suy. Một người phụ nữ 87 tuổi, cả một đời tận tụy chuyện chồng con, nhưng rồi từng người thân yêu nhất của bà cũng lần lượt bỏ bà mà ra đi. Số chi mà hẫm hiu đến tận cùng. Từng ngày, tấm thân gầy guộc mưu sinh bên chiếc xe hàng nhỏ xíu xiu. Được biết, ước mơ của bà chỉ là có một miếng đất trước khi chết để ra đi cho thanh thản.
Ngẫm mà thương, nghĩ mà cũng thấy xót. Hy vọng, ước mơ bé nhỏ của bà sẽ trở thành hiện thực để cho trọn một kiếp phù sinh.
Cũng cùng một hoàn cảnh, cách đây một thời gian khá dài, có một người phụ nữ vì nghịch duyên, nên lấy chồng không môn đăng hộ đối nên phải xa xứ, lâu năm không về thăm quê hương xứ sở. Một lần, vì nhớ thương cha mẹ quá đỗi, mới kêu chồng xin được về thăm. Số phận trớ trêu thay, trên đường về chồng bị rắn cắn, hai đứa con thân yêu nhất cũng bị cướp mất bởi vô thường, một đứa thì nước cuốn trôi, một đứa bị chim ăn thịt. Còn nỗi đau đớn nào hơn thế nữa. Đúng với cái câu “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí” (phúc thì ít ỏi, họa thì đến triền miên vô cùng tận), người đàn bà khốn khổ ấy gạt nước mắt phân ly, tiếp tục bước đi với một tia hy vọng được gặp lại cha mẹ mình. Vậy mà, vừa về đến đầu ngõ, mới hay hung tin mẹ cha đã bị vùi trong đống tro tàn bởi cơn hỏa hoạn.
Đau khổ đến cùng cực, bất hạnh đến thê lương, điên loạn đến tột độ, người đàn bà ấy đã trút bỏ hết xiêm y, chạy khắp cùng làng ngõ xóm với tiếng kêu thất thanh: Cha tôi đâu! Mẹ tôi đâu! Chồng con của tôi đi đâu hết rồi!
Ai có thể trả lời người đàn bà bất hạnh ấy! Làm sao có thể làm vơi đi sự sầu khổ của bà dù chỉ là một khoảnh khắc nhỏ nhoi đây! Có đâu một đấng sáng thế toàn năng mà mọi khi người ta vẫn thường kính cẩn lễ bái và cầu nguyện, thì nay cho đến ngàn mai sau miên viễn chỉ là những đức tin mù quáng, nào có ai giúp được bà gạt vượt qua nỗi thống khổ này đây!
Hai mảnh đời cùng một số phận, nhưng người đàn bà thứ hai do túc duyên nhiều đời nên đã gặp được một người tỉnh thức. Lúc đó, đức Phật đang ở tu viện Anathapindika. Đức Phật nhìn thấy bà từ xa, nhận ra trong một kiếp quá khứ, bà đã có quyết tâm trở thành một vị Ni giỏi về luật. Đức Phật nói đại chúng để bà tới gần Ngài. Ngay khi tới gần đức Phật, nhờ sức thần thông của đức Phật, bà tỉnh trở lại, tự thấy cơ thể đang lõa lồ, hổ thẹn nên thu mình lại. Ngay lúc ấy, một vị cư sĩ ném cho bà một tấm vải khoác, để bà quấn quanh người, và bà quỳ lạy dưới chân đức Phật, kể lại thảm kịch mất toàn bộ người thân.
Đức Phật lắng nghe và từ bi nói rằng, những đau thương đó chỉ là những giọt rất nhỏ trong biển sóng vô thường mà chúng sinh đang ngụp lặn. Đức Phật nói rằng trong vô lượng kiếp, nước mắt bà đã rơi cho người thân nhiều hơn nước trong bốn đại dương.
Đức Phật nói bài kệ:
“Nước trong bốn biển
Cũng không nhiều bằng
Nước mắt một người
Khóc vô lượng kiếp.
Trong đau thương sầu khổ
Sao phụ nữ này vẫn còn chưa lo tu học?”.
Nghe như thế, tức khắc, bà giác ngộ. Chẳng bao lâu sau, nhờ tinh tấn tu học, người phụ nữ ấy đắc Thánh quả A-la-hán, và trở thành vị Thánh Ni đứng đầu bên Ni giới về giới luật.
Thế mới thấy, cũng cùng một kiếp con người, nhưng người phụ nữ thứ nhất lại tiếp tục cuộc hành trình gian khổ của người lữ khách xa quê, không biết ngày trở về; còn người phụ nữ thứ hai thì đã không còn bước tới nữa, hạnh phúc hay khổ đau, được và mất… chỉ là chuyện thế gian.
“Ngọn lửa nhỏ bỗng tắt
Niết-bàn hiện ra!
Tâm tôi hoàn toàn giải thoát”.