Bài viết

Niềm tin của người con Phật

Cập nhật: 28/04/2018
Chuyện ngày xưa...
 

Niềm tin của người con Phật

 

Suppavàsà, con gái của vua xứ Koliya mang thai đến bảy năm, vào một ngày cuối năm thứ bảy nàng bị đau đẻ. Cơn đau kéo dài liên tục trong suốt một tuần mà vẫn chưa sinh được hài nhi. Đến ngày thứ bảy, nàng cảm giác những cảm thọ khổ đau, nhức nhối, khốc liệt và thống khổ, mặc dầu vậy người cận sự nữ vẫn duy trì ba niệm: “Thế Tôn thật là bậc Chánh Ðẳng Giác, Ngài thuyết pháp để đoạn tận đau khổ này. Chúng Tăng đệ tử của bậc Thế Tôn ấy là những vị khéo hành trì giáo pháp. Các ngài hành trì để đoạn tận đau khổ này. Pháp do Thế Tôn khéo thuyết giảng là con đường chân chánh đưa đến sự đoạn tận sự khổ đau, mục đích đưa đến sự an lạc là Niết-bàn, tại đây khổ đau này không có mặt”. Rồi Suppavàsà, con vua Koliya gọi người chồng đến rồi nói: “Này phu quân, chàng hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đó hãy nhân danh thiếp mà cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm ngài có ít bệnh ít não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú và thưa với đấng đại hùng rằng: “Bạch đức Thế Tôn, vợ con là Suppavàsà, con gái của đức vua Koliya, bảo con đến đây và thay mặt nàng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm Thế Tôn có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú”. Chàng hãy kể vị đạo sư biết rằng dù trong hoàn cảnh đau đớn ấy, người tín nữ trong giáo pháp của Thế Tôn vẫn luôn nhớ tưởng đến ngài, nghĩ về ân đức của Tam Bảo[1].

Chuyện bây giờ...

Nehru, một trong những vị thủ tướng của Ấn Độ từng bị cảnh sát Anh bắt giữ. Có một điều đặc biệt là ông luôn có một bức tượng Phật nhỏ đem theo bên mình. Khi bị giam trong tù, ông hay đem bức tượng đặt trên bàn, nhìn vào đó rồi suy nghĩ: “Có biết bao là phiền muộn, rắc rối và khó khăn trên cuộc đời này. Dẫu vậy, đức Phật vẫn có thể giữ được một khuôn mặt tươi vui. Tại sao ta lại không noi theo con người vĩ đại ấy”.

Cựu Thủ Tướng Myanmar, Khin Nyunt Trong đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC tiếng Việt vào ngày 13 tháng 01 năm 2012, sau khi ông bị chính quyền dân sự nước này bắt giữ trong sáu năm: “Từ khi bị vào tù năm 2004, trong thời gian này, tôi đã tìm lại triết lý Phật giáo để vượt qua những khó khăn, và tôi tin rằng đạo Phật sẽ giúp cho đất nước Myanmar hồi sinh trở lại[2]”.

Khi nói đến niềm tin của người con Phật, chúng ta có rất nhiều phương diện để cảm nhận và bàn bạc. Bởi lẽ, niềm tin là yếu tố rất quan trọng để một hành giả có thể đặt chân lên lộ trình giải thoát. Thế nhưng, niềm tin thế nào là đúng? Làm sao để có được niềm tin chân chánh mà không bị rơi vào tà kiến, mê tín, mù quáng là điều không dễ dàng? Ba nhân vật trong ba câu chuyện mà người viết đề cập vừa rồi đem đến cho chúng ta nhiều bài học để suy tư.

Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai”. Người đặt niềm tin mù quáng vào Thế Tôn, với những tà kiến kiên cố được xem là người phỉ báng Phật, được đặt ngang hàng với người mang lòng thù hận với ác tâm hại Phật. Đó là điều đáng cho người đệ tử Phật lưu tâm.

Thế nào là một niềm tin đúng? Mỗi ngày, chúng ta đến chùa tụng kinh, lạy Phật, niệm Phật,... Nhưng chúng ta hiểu về Phật như thế nào? Có vô số người tự xem mình là Phật tử, nhưng ngày qua ngày vẫn xem Phật là một vị thần, đem hương hoa quả trái đến chùa để cầu ngài ban cho cái này cái khác. Sức khỏe, tiền bạc, danh tiếng, sắc đẹp,... là những điều mà ai cũng mong muốn, nhưng đâu phải cầu xin, van vái mà có được.

Một người tin Phật là tin vào những lời dạy của ngài: tin nhân quả nghiệp báo, tin vạn sự do duyên mà thành, tin vào ba điều chắc thật của cuộc đời là khổ, vô thường, vô ngã. Đó là niềm tin đúng. Chúng ta hiểu về Phật như vị thầy dẫn đường, Ngài đã hướng dẫn những phương pháp hành trì để đưa đến đoạn tận khổ đau, đó là hiểu Phật đúng. Để không hiểu lầm Phật, để niềm tin không rơi vào cực đoan và mê tín, cách duy nhất là học hỏi giáo pháp một cách cẩn thận và chăm chú, suy tư về pháp và vận dụng những lời dạy đó vào cuộc sống cũng như sự tu hành. Đó cũng chính là con đường văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ.

Kinh điển ghi lại, một người chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn có bốn pháp Dự Lưu phần: “Vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Vị ấy thành tựu với những giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định.

Từ đây, chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của chánh tín trong đạo Phật. Từ chánh tín đưa đến chánh kiến, mà chánh kiến là nhân tố quyết định và chi phối chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,... Đạo lộ Bát Chánh được sanh khởi, tiến triển và thành tựu nhờ vào niềm tin đúng đắn vào Tam Bảo.

Để kết thúc bài viết, chúng ta hãy cùng đọc lại bài kinh đức Phật thuyết cho những vị Kalama tại Kesaputta. Một bài pháp hùng hồn để nói lên tinh thần tự do trong nhận thức, mở rộng lối tư duy và niềm tin chánh trực, thiết thực mà bậc đại hùng đã tuyên thuyết cho những người đệ tử:

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo; chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyề; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.

Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng. Khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy tự đạt đến và an trú!

Tâm Nhân

 


[1] Lược trích kinh Phật Tự Thuyết, phẩm Bồ Đề, chương Mucalinda, phần Nanda

[2] Lược trích Miến Điện Mặt Trời Lên - Thích Thái Hòa , NXB Phương Đông, 2013

Tin tức liên quan

Bài cảm nhận khoá tu Phật thất lần thứ 107
05/02/2026
Cảm nhận lễ chiêm bái Xá Lợi Phật, chiêm bái trái tim Bồ Tát Thích Quảng Đức và Đại lễ Phật đản – Vesak 2025
19/05/2025
CẢM NHẬN KHOÁ TU PHẬT THẤT LẦN THỨ 105
29/04/2025
PHẬT GIÁO MÌNH ĐẸP LẮM!
26/04/2025
Cảm nhận chuyến tham quan chùa Trường Pháp
15/04/2025