Đến cửa chùa rũ bỏ trần duyên tính xấu
Vào điện Phật giữ gìn mối đạo tâm lành.
Bài viết
Nuối tiếc
Cập nhật: 14/10/2011
“Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật” Những từ ngữ ấy chắc không lạ gì với hàng Phật tử, hoặc chí ít cũng không dưới vài lần đã được nghe qua. Thế nhưng, mấy ai đã sống trọn được “tâm, hạnh” ấy với cha mẹ mình, để rồi khi họ mất đi không ít người đã phải nuối tiếc thì không còn cơ hội... Trong số đó lại bất hạnh có bản thân tôi.
Quê hương tôi ở miền Trung, miền đất khô cằn sỏi đá, lại gặp thời buổi chiến tranh, kinh tế khó khăn lại càng khó khăn. Đa phần người dân rất nghèo khó, gia đình tôi cũng chung trong cảnh ngộ ấy...
Từ khi biết nhận thức tôi đã thấy cha mẹ suốt ngày dầm mưa dãi nắng, vật lộn với bao công việc nặng nhọc, một nắng hai sương không kể ngày hạ tháng đông để đổi lấy bát cơm manh áo nuôi nấng chúng tôi. Gia đình tôi có 6 anh chị em. Khi tôi còn nhỏ, anh và chị đầu đã qua đời do bị thương hàn không tiền hạy chữa; còn lại chị thứ ba, tôi là con trai thứ tư và kế tôi là một em gái cùng một em trai út. Đứa em trai đã bất hạnh bị bom đạn cướp mất năm 1968. Từ đó bao nhiêu yêu thương cha mẹ dành hết cho ba chị em chúng tôi, nhất là tôi – đứa con trai còn lại duy nhất.
Có nhiều lúc nhìn cha mẹ ngồi ưu tư, tôi biết ông bà đang lo nghĩ về hoàn cảnh gia đình, về tương lai của chúng tôi. Chiến tranh ngày càng ác liệt, gia cảnh khó khăn, đời sống sau này sẽ ra sao? Việc ăn học của chúng tôi sẽ như thế nào? Cuộc sống khốn khó vẫn mãi đeo bám chúng tôi như định luật muôn thuở. Có lần cha nói với tôi: “Con cố gắng học lấy năm ba chữ để biết với đời. Đời cha mẹ thất học đã quá khổ rồi, nếu các con không lo học thì cái dốt, cái nghèo sẽ tiếp nối mãi từ đời này qua đời khác. Dù cực nhọc đến đâu cha mẹ cũng sẽ lo cho các con”. Nói thì vậy, nhưng dù đã cố gắng hết sức, cha mẹ cũng chỉ lo cho tôi học hết tiểu học, còn hai chị em gái thì chỉ học hết lớp ba. Chúng tôi biết, hoàn cảnh khó khăn, ăn còn chưa có nói gì đến việc học.
Khi được 15 tuổi, cha mẹ cho tôi đi học làm thợ mộc. Trong khi cùng tuổi ấy, nhũng đứa trẻ khác phải chân lấm tay bùn để phụ giúp gia đình. Hồi đó thợ mộc cũng có “giá” lắm, người thường ta nói “nhất thợ nhì thầy” mà.
Nói đến công ơn cha mẹ chẳng ai lại không biết. Từ cổ chí kim, không biết bao nhiêu kinh sách, thơ ca, giấy mực đã dùng những mỹ từ để xưng tán, tôn vinh hai đấng sinh thành. Nào là:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Hay là:
“Nước biển mênh mông không đong đầy lòng mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha”
v.v… và v.v...
Không ai so sánh giữa công cha và nghĩa mẹ bên nào trọng, bên nào khinh nhưng kí ức về cha hoặc mẹ thì mỗi người có ít hoặc nhiều. Trong tôi, hình ảnh của người cha thân yêu còn đọng lại rất đậm nét. Đó là những ấn tượng khó phai và có lẽ sẽ theo tôi suốt cuộc đời.
Vào năm 1960, lúc đó tôi khoảng 10 tuổi. Vào ngày hôm đó, chị bị ốm, tôi thay chị đi chăn trâu. Vì mải ham chơi, để trâu ăn lúa, người ta đến nhà bắt đền. Tôi biết được và rất sợ, vì nhà đang túng thiếu, lấy gì để đền cho người ta. “Tối này về chắc sẽ bị ăn đòn rồi” - nghĩ vậy nên về đến ngõ tôi không dám vào, vội lẻn vào cây rơm trước nhà để trốn. Đến tối chưa thấy tôi về, cả nhà rất lo lắng và nhốn nháo cả lên (đó là sau này tôi nghe chị kể lại). Cha và mọi người đi tìm xung quanh xóm mà không thấy tôi đâu, cha như bị lửa đốt, đứng ngồi không yên, hết vào nhà lại đi ra sân. Chập tối, chị tôi ra lấy rơm để nấu ăn, thấy tôi nằm co ro, chị liền vô nhà cho cha biết. Cha tôi không dấu được vẻ vui mừng à to lên một tiếng, đồng thời vội đến bên tôi nhưng cố làm mặt giận dữ nói: “Lo vô ăn cơm nước đi để rồi tao tính tội cho”. Tôi lủi thủi theo mọi người vào nhà. Ăn uống xong, tôi hồi hộp ngồi đợi trong dáng vẻ của tội nhân đang chờ lãnh hình phạt. Ngờ đâu, cha nhìn tôi với ánh mắt đầy thương yêu rồi nhẹ giọng: “Nhà ta nghèo khó con đã biết, cho nên khi làm một việc chi con phải để tâm vào việc ấy. Việc lỡ xảy ra rồi, sau này con phải nhớ lấy!”. Nghe xong, tôi vừa mừng vừa hối hận. Mừng vì khỏi bị ăn đòn, còn hối hận vì thấy cha mẹ vất vả suốt cuộc đời, tận tụy lo lắng cho con cái như thế, tôi đã không giúp được gì lại còn gây thêm phiền não cho cha mẹ. Kể từ đó, tôi đã có được ý thức trách nhiệm trong mọi công việc.
Lần khác, vào năm 2004, lúc này cha đã được 84 tuổi, ông đang sống những ngày cuối đời (còn 3 ngày nữa là ông mất), tôi đang bị thương ở ngón tay út còn băng bó, chợt có công việc đột xuất, cần sự có mặt của tôi. Khi tôi vừa định đi làm, cha tuy đang mệt mỏi nhưng vẫn cố mở mắt nói với tôi: “Tay còn đau thì nghỉ ngơi đi đã, lúc nào lành rồi hay”. Dù tôi đã ở tuổi gần lục tuần, cũng đã có cháu nội, cháu ngoại vậy mà cha đang sống trong những giờ phút cuối của cuộc đời vẫn còn quan tâm đến con cái, vẫn xem tôi là đứa con trai bé bỏng như ngày nào. Ôi! Tình thương của cha mẹ thật bao la, vĩ đại. Người xưa có câu “cha mẹ trăm tuổi còn thương con tám mươi” thật không sai.
Khi cha mẹ sinh tiền, mỗi lần vào mùa Vu Lan báo hiếu, tôi đều tụng kinh Vu Lan. Cũng hiểu ý nghĩa kinh nhưng không cảm nhận được gì. Sau này, khi cha mẹ quá vãng, khi tụng đến những đoạn như:
“… Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo
Điều thứ chín miễn con sung sướng
Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam…
…Uớc mong con được nên thân
Dù cho cha mẹ cơ bần quản chi
Con ốm đau tức thì lo chạy
Dù tốn hao cách mấy cũng đành…”
Lòng tôi như thắt lại, không cầm được nước mắt. Có phải vì tôi cũng đã nuôi con như thế nên mới cảm nhận sâu sắc được điều này chăng?
Tuy nhiên, tôi cũng được phần nào an ủi khi biết đôi điều về những lời Phật dạy nên sự phụng dưỡng của tôi đối với song thân cũng có phần chu đáo hơn. Về vật chất, tuy không sung túc như người ta, nhưng cũng đã đem hết khả năng của mình; có lúc gặp món ngon vật lạ cũng mua về mời cha mẹ dùng, vì tôi nghĩ bây giờ không cung phụng, sau này khi cha mẹ mất rồi dù muốn đáp đền cũng không được nữa. Tang lễ của cha mẹ, tôi cũng có mời quý thầy về tụng kinh. Bên cạnh đó, tôi cũng làm nhiều việc phước thiện như phóng sinh, bố thí, cúng dường để hồi hướng công đức cho cha mẹ với tâm chí thành.
Mặc dù vậy, có điều tôi vẫn chưa được hài lòng, vì thời gian dành cho cha mẹ lúc sinh tiền không được nhiều, nhất là với cha. Vì mẹ qua đời trước cha 8 năm, thời gian 8 năm cha sống lẻ loi, thiếu bóng người bạn đời. Tuy đã có con cháu và bản thân ông cũng là một Phật tử thuần thành, luôn luôn trì niệm danh hiệu Phật, nhưng có lẽ nỗi cô đơn chắc cũng có lúc len lỏi đến tâm hồn cha. Tại sao lúc đó tôi không dành cho cha nhiều thời gian hơn nữa, vì mỗi lần đến bên cha, tôi thấy ông rất vui và hạnh phúc. Bây giờ có muốn cũng đâu còn kịp nữa!
Viết lên những dòng này, tôi phần nào cũng nhẹ bớt tâm tư, phần nữa cũng xin mạo muội nhắn nhủ chân thành đến những ai đang còn cha mẹ, hãy hết lòng nâng niu và trân trọng vì quý vị đang còn cả một vùng trời hạnh phúc, còn cơ hội để phụng dưỡng, kính yêu. Và nếu chỉ còn cha hoặc mẹ thì sự trân trọng ấy phải được nhân lên gấp bội, nhất là khi cha mẹ ở tuổi xế chiều; tuyệt đối không làm điều gì để cha mẹ phải rơi lệ, kẻo mai kia có nuối tiếc thì cũng đã quá muộn màng. Vì khi cha mẹ mất đi thì: