Bài viết
Sự thật cuộc đời
Cập nhật: 27/06/2009

Mục đích chính đức Phật có mặt trên cõi đời này, là “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. (Kinh Pháp Hoa). Nghĩa là chỉ cho chúng sinh biết được con đường tu tập tiến thẳng đến quả vị Phật.
Do vô minh che lấp, chúng ta cứ mãi chạy theo bả danh lợi giả tạm của thế nhân, chấp trước, chấp ngã, nhận giặc làm con, nhận giả làm thật; không biết đâu là tà, đâu là chánh; không biết đường nào nên đi, đường nào nên tránh. Chính một niệm vô minh bất giác này đã nhận chìm chúng ta trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi, như cánh lục bình cứ mãi lênh đênh trên dòng nước, không nơi nương tựa, không một bến bờ.
Nhưng trong mỗi chúng ta, ai rồi cũng sẽ có một lần ra đi về bên kia thế giới. Khi ra đi, chúng ta mang theo những gì và để lại những gì? Để nhận thức rõ vấn đề này, chúng ta cùng kể nhau nghe về câu chuyện Anh Chàng Bốn Vợ.
- Bà vợ thứ nhất: Được chàng ta cưng chìu hết lòng hết dạ! Bao sự quan tâm lo lắng, anh ta đều dành cho bà này. Bà muốn gì anh ta đều đáp ứng đầy đủ. Anh ta cưng vợ như trứng mỏng.
- Bà vợ thứ hai: Khi đi đâu, anh ta cũng dắt bà ta theo bên mình.
Hai người bên nhau như tay phải tay trái. Xa nhau một ngày đã nhớ, vắng nhau một lúc đã buồn.
- Bà vợ thứ ba: Riêng với bà vợ thứ ba này, anh ta thương ít hơn hai bà vợ trước. thỉnh thoảng anh ta mới đến thăm hai, ba lần.
- Bà vợ thứ tư: Không hề hỏi thăm. Chàng thường bỏ bê bà này cô đơn lạc lỏng giữa những đêm trường giá lạnh, một mình ôm gối chiếc, thật hiu quạnh và trống vắng. Một hôm, anh ta bị tai nạn, mang bệnh ngặt nghèo. Biết mình không thể qua khỏi, anh lần lượt gọi từng bà vợ đến hỏi. Anh hỏi bà vợ thứ nhất:
- Em ơi! Suốt đời anh đã dành trọn trái tim cho em, trước sau như một, không thay lòng đổi dạ. Vậy, em ạ! Mai này anh chết, em có chết theo anh không? Bà vợ thứ nhất trả lời: Anh ơi! Em nghĩ nhờ kiếp trước có tu nên hôm nay em mới gặp được người chồng thật xứng đáng, đã dành trọn tình thương cho em. Em biết ơn anh nhiều lắm. Tuy anh lo cho em đầy đủ, không thiếu một thứ gì nhưng khi anh chết đi, em sẽ lấy chồng khác. Anh chết thì anh đi một mình đi, em không theo đâu! Câu trả lời này đã làm cho anh ta thất vọng và tan nát trái tim. Mối tình đầu đã tan vỡ.
- Tôi đâu ngờ tình chỉ đẹp thuở ban sơ, Chia tay người tôi về ôn lại vần thơ. Tình tôi vỡ tan như bèo đời sau hắc hiu, Tình không bến neo, như là gió mưa bay vèo.
- Em ơi! Hai quả tim vàng, Một căn nhà nhỏ chỉ là hư vô. Nên anh mới hiểu được rằng, Tình trên nhân thế chẳng đẹp như thơ. Yêu em anh quá dại khờ, Trèo cao té nặng ai ngờ đâu em. Vậy là, bà vợ thứ nhất đã vụt khỏi tầm tay. Chàng tiếp tục gọi bà vợ thứ hai:
- Em ơi! Khi cưới em về, đi đâu cũng có em theo. Vắng em thì anh buồn, có em thì anh vui. Em ạ! Mai anh chết rồi, em có chết theo anh không? Bà vợ thứ hai trả lời:
- Anh ơi! Em nghĩ nhờ kiếp trước có tu nên hôm nay em mới gặp được người chồng thật xứng đáng đã dành nhiều tình thương cho em. Vậy, để đáp lại ơn nghĩa này, mai đây anh chết, em chỉ mua cho anh chiếc quan tài và lo mai táng anh thôi. Anh chết thì anh đi một mình đi, em không theo đâu! Câu trả lời của bà vợ thứ hai này đã làm cho anh ta thất vọng và chán nản. Sau đó, chàng tiếp tục gọi bà vợ thứ ba đến hỏi:
- Em ơi! Khi cưới em về, thỉnh thoảng anh có đến thăm em hai, ba lần. Dù sao đi nữa anh cũng là chồng của em. Em ạ! Mai đây anh chết, em có chết theo anh không? Bà vợ thứ ba trả lời: - Anh ơi! Tuy anh dành tình thương cho em rất ít nhưng dù gì đi nữa em cũng phải ghi nhớ. Vậy, mai đây anh chết, em chỉ đưa anh ra nghĩa trang, an táng đâu vào đó rồi, em xin từ giã. Anh chết thì anh đi một mình, em không theo đâu! Câu trả lời của bà đã làm cho anh ta thất vọng. Như vậy, bao nhiêu tình thương và sự quan tâm lo lắng đã dành hết cho ba bà vợ đầu đều bay theo mây gió, thật uổng phí cả cuộc đời. Ôi khổ quá! Thật là thất vọng lớn! Nhưng vẫn còn tia hy vọng cuối cùng, có thể sẽ giúp anh vượt qua và giữ vững niềm tin, đó là bà vợ thứ tư. Anh liền gọi bà vợ này đến hỏi:
- Em ơi! Khi cưới em về, bao tình thương và sự quan tâm lo lắng, anh đều dành hết cho ba người vợ đầu, còn em thì anh bỏ bê cô đơn lạc lỏng. Giờ nghĩ lại, anh thật có lỗi với em. Thôi vì thương anh, xin em hãy tha thứ cho anh! Em ạ! Mai anh chết rồi, em có chết theo anh không? Bà vợ thứ tư xúc động:
- Anh ạ! Tất cả nỗi khổ niềm đau đến với em hôm nay, đều do em, anh không có lỗi gì với em cả. Ngược lại, em còn thương anh gấp bội! Em hứa từ đây về sau, anh đi đâu thì em sẽ theo đó, cho dẫu phải theo anh về thế giới bên kia, em cũng sẽ sẵn sàng! Câu trả lời đầy tình người này đã làm cho anh ta dường như sống lại và tràn ngập niềm vui.
Qua bốn bà vợ này, chúng ta có thể chiêm nghiệm ra vài đạo lý:
- Bà vợ thứ nhất chỉ cho thân thể chúng ta. Theo tâm lý chung, khi nào ta cũng yêu quý thân thể mình hơn yêu thương thân thể người khác. Cho nên, ta cứ mãi tham đắm, vun bồi, chăm sóc và khổ lụy quá nhiều cho nó. Nhưng cuối cùng, khi nhắm mắt xuôi tay, ta không mang nó đi được. Ôi! Thật phủ phàng và đau đớn thay!
Cuộc đời chẳng có là bao
Cũng như giấc mộng tan vào hư không
Biết thế cũng đừng nên trông
Mà ta phải ráng gắng công tu hành.
Bao bì cốt nhục nung huân huyết
Cưỡng tác kiều yêu cuống hoặc nhân,
Thiên cổ anh hùng giai nhân tận
Bách niên đồng tác nhất khanh trần.
Nghĩa là:
Máu mủ thịt xương một túi nhơ
Tô điểm chi mong gạt tình hờ
Vạn thuở anh hùng giai nhân tận
Trăm năm để lại đống tro nhơ.
Đức Phật muốn cho chúng ta thấy được thật tướng của thân thể này, để khỏi phải mê lầm về nó. Hằng ngày, trong thân thể chúng ta có chín lỗ thường chảy ra những thứ bất tịnh hôi tanh. Vì thế, các vị Tổ ví mùi tanh hôi của chín lỗ này còn gấp hơn mấy lần mùi tanh hôi ở những cống rãnh thành phố. Chín lỗ đó là gì? Hai tai chảy ra ráy, hai mũi chảy ra nước mũi, miệng chảy ra nước miếng, hai mắt chảy ra ghèn, đường tiểu tiện chảy ra nước tiểu, đường đại tiện thải phân.
Chúng ta phải thấu hiểu thân này chỉ là bọc da chứa đựng những đồ bất tịnh, là vô thường, là giả tạm, không có cái gì là ta cả. Nghĩ như thế, chúng ta mới quên mình tu được. Còn ngược lại, nếu không hay biết, chúng ta cứ cho thân này là thường còn, cuộc đời này là đẹp đẽ; chấp cái ta này là thật có, rồi cứ mãi tham đắm bả ngũ dục, danh lợi giả tạm ở thế gian, suốt cả cuộc đời chỉ là người mò trăng đáy nước và làm nô lệ cho cái giả.
- Bà vợ thứ hai chỉ cho tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, khi chết không mang theo được.
Giàu sang quyền quý thế nào
Chỉ là mộng huyễn mang vào được đâu
Khôn ngoan biết giả quay đầu
Buông bỏ tất cả mới cầu tánh chân.
Danh mà chi, lợi để mà chi
Chuốc lấy đau thương khổ ly bì
Niết-bàn mở rộng ta tìm đến
Nhất tâm niệm Phật bất tư nghì.
Đây là sự thật cuộc đời. Cho dù làm vua, làm quan, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con ngoan nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, những thứ này không theo ta và ta cũng không mang nó đi được. Tất cả điều cuốn theo chiều gió.
- Bà vợ thứ ba chỉ cho thân bằng quyến thuộc, khi chết không mang theo được. Đúng như bài sám Hồng Trần, lời lẽ của sám văn như những giai điệu buồn bã, bi thương ru mãi ngàn sau cho người đời tỉnh giác:
Người đời có biết chăng ôi!
Thân người tuy có, có rồi hoàn không.
Chiêm bao khéo khuấy lạ lùng,
Mơ màng trong một giấc nồng mà chi.
Làm cho buồn bã thế ni,
Hình dung mới đó bữa nay đâu rồi.
Khi nào đứng đứng ngồi ngồi,
Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô.
Khi nào du lịch giang hồ,
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài.
Khi nào lược giắt trâm cài,
Bây giờ gởi xác ra ngoài gò hoang.
Khi nào trau ngọc chuốt vàng,
Bây giờ một nắm xương tàn lạnh tanh.
Khi nào mắt đẹp mày thanh,
Bây giờ thấy dạng, thấy hình là đâu.
Khi nào lên các xuống lầu,
Bây giờ một nắm cỏ sầu xanh xanh.
Khi nào liệt liệt oanh oanh,
Bây giờ một trận tan tành gió mưa.
Khi nào ngựa lộc xe lừa,
Bây giờ mây rước trăng đưa mơ màng.
Khi nào ra trướng vào màn,
Bây giờ nhà cửa xóm làng cách xa.
Khi nào mẹ mẹ, cha cha,
Bây giờ bóng núi cách xa muôn trùng.
Khi nào vợ vợ, chồng chồng,
Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn.
Khi nào cháu cháu, con con,
Bây giờ hai ngã nước non xa vời.
Khi nào cốt nhục vẹn mười,
Bây giờ lá héo nhành tươi vui gì.
Khi nào bạn hữu sum vầy,
Bây giờ chén rượu, cuộc kỳ vắng thiu.
Sống ở đời, cho dù cha mẹ, vợ chồng, con cháu, bạn hữu, xóm làng yêu thương nhau như thế nào đi nữa, nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, không ai theo ta được. Tình cảm nhiều lắm cũng chỉ đưa ta ra nghĩa trang thôi.
- Bà vợ thứ tư chỉ cho nghiệp lực của chúng ta. Khi chết nó sẽ theo ta như bóng với hình.
Qua bốn bà vợ trên, ta có thể thấy được sự thật cuộc đời. Khi nhắm mắt xuôi tay, ta không mang gì đi cả, chỉ mang theo những hành động thiện và ác mà thôi. Nói cách khác, chỉ mang theo nghiệp lực.
Theo đạo Phật, chết không phải là hết. Chết chỉ là một trạng thái thay đổi thân ngũ uẩn để chuyển sang một đời sống mới, cũng giống như thay áo cũ mặc áo mới.
Nên biết rằng, không chỉ sống kiếp này, mà chắc chắn chúng ta sẽ còn tái sinh trong nhiều kiếp về sau nữa. Hiện tại cũng như mai sau, đời sống của ta sung sướng hay khổ đau đều do ta quyết định.
Nếu hằng ngày chúng ta biết gieo những hạt giống tốt đẹp vào mảnh đất tâm, thì mảnh đất tâm sẽ cho hoa trái ngọt ngào và đầy hương vị. Ngược lại, nếu chúng ta luôn gieo những hạt giống bất thiện, xấu ác vào mảnh đất tâm, mảnh đất tâm của chúng ta sẽ cho ra những hoa trái đắng cay và vô bổ. Nói cách khác, gieo giống tốt sẽ có quả ngọt; gieo giống xấu sẽ bị quả đắng.
Kinh Pháp Cú, Phật dạy:
Chỉ có ta làm điều tội lỗi,
Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm,
Trong sạch hay ô nhiễm chỉ có ta tạo ra,
Không một ai làm cho ta trong sạch hay ô nhiễm.
Như vậy, đời sống của ta điều do ta quyết định. Không một bậc siêu nhân nào có quyền năng ban ơn, giáng họa, thưởng phạt hay thay đổi đời sống của ta.
Đạo Phật là đạo như thật, là đạo luôn chánh tín theo nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, không mê tín dị đoan. Tất cả vạn vật hiện hữu trên vũ trụ này đều không nằm ngoài luật nhân quả, nghiệp báo.
Thời Phật còn tại thế, ngoại đạo Bà-la-môn có tồn tại hai lối chấp: chấp thường và chấp đoạn.
- Chấp thường: Họ cho rằng, làm ác không có tội, không bị đọa, chết rồi con người sẽ trở lại làm người. Những ai rơi vào lối chấp cực đoan này sẽ là những người làm việc ác không gớm tay.
- Chấp đoạn: Họ không tin tội phước, nhân quả, tin không có kiếp sau, cho chết là hết. Với lối chấp sai lệch này, họ mặc sức tạo ác.
Một hôm, có vị Bà-la-môn hỏi đức Phật:
- Thưa Sa-môn Gotama! Hằng ngày tôi sống trong môi trường tốt, luôn biết gieo những hạt giống lành như từ bi, hỷ xả, bao dung, độ lượng, lắng nghe, thấu hiểu, thương yêu, thông cảm, tha thứ, phóng sinh, bố thí, giúp đỡ mọi người. Thưa Sa-môn Gotama! Tôi sống tốt như vậy, nếu như tôi chết một cách bất đắc kỳ tử, tôi sẽ sinh về đâu?
Phật trả lời: - Này Bà-la-môn! Ta hỏi ông, nếu có một cây mọc trên bờ sông Hằng và nghiêng về hướng Tây, khi ngã nó sẽ ngã về hướng nào?
Bà-la-môn trả lời:
- Dĩ nhiên nó sẽ nghiêng về hướng Tây. Phật khen Bà-la-môn trả lời đúng.
Đức Phật dạy:
- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu hằng ngày ông luôn biết gieo những hạt giống tốt, khi chết một cách bất đắc kỳ tử thì ông cứ theo nhân tốt đó mà tái sinh vào thế giới tốt cũng giống như cây ban đầu nghiêng về hướng Tây thì khi ngã, nó sẽ ngã về hướng Tây. Ngược lại, nếu hằng ngày ông luôn vun bồi những hạt giống xấu, khi chết một cách bất đắc kỳ tử thì ông cứ theo nhân xấu đó mà tái sinh vào thế giới đau khổ cũng giống như cây ban đầu nghiêng về hướng Tây, khi ngã nó sẽ ngã về hướng Tây.
Qua lời dạy này, chúng ta hiểu được: gieo nhân nào thì gặt quả đó. Nếu mình gieo nhân ớt thì sẽ cho ra quả ớt, gieo nhân mít sẽ cho ra quả mít. Nếu hằng ngày chúng ta niệm ma, tu theo ma thì sớm muộn gì chúng ta sẽ đi theo đường ma. Ngược lại, chúng ta niệm Phật, tu theo Phật thì trước sau gì chúng ta cũng thành Phật.
Đạo lý nhân quả, nghiệp báo là nền tảng giáo lý căn bản của đạo Phật. Nói đến đạo Phật không ai lại không nhắc đến đạo lý nhân quả, nghiệp báo; bàn về nhân quả, nghiệp báo, không ai lại không nghĩ đến đạo Phật.
Kinh Trung Bộ, tập 3, kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, trang 473 ghi:
- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài người với nhau, khi họ là loài người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.
- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.
Sống ở đời, không ai giống ai. Mọi người đều có sự sai khác như giàu nghèo, sang hèn; sống lâu, chết yểu; thông minh, ngu tối v.v… Tất cả đều do nghiệp chi phối.
Nghiệp là gì? Là những hành động có tác ý. Nếu tác ý thiện có quả thiện, tác ý ác có quả ác.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 4, trang 613, Phật dạy:
- Này các Tỷ-kheo, các chúng sinh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sinh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
Theo từ điển Phật Học Huệ Quang thì: “Nghiệp là sự tạo tác, tức những hoạt động của thân tâm như hành vi, ý chí hoặc chỉ cho những sinh hoạt của thân tâm do ý chí sinh ra”.
Theo Phật Giáo Đại Thừa và kinh Lượng Bộ chủ trương như sau: “Tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo khổ, vui tương ứng. Vì có nghiệp nhân nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn vô ký nghiệp là phi thiện, phi ác thì không có năng lực chiêu cảm quả báo”.
Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu có ghi:
- Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo.
- Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình.
Sở dĩ chúng ta tràn ngập nỗi khổ niềm đau, tạo nhiều tội lỗi và bị trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi do bởi ba nghiệp thân, khẩu, ý gây tạo nhiều điều bất thiện. Ba nghiệp này quyết định một đời sống hạnh phúc hay đau khổ ở hiện tại cũng như mai sau nếu ta gieo nhân thiện hay ác.
Lương Hoàng Sám, trang 82, cũng nói lên điều đó:
- Những tội lỗi từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay, do thân, khẩu, ý tạo ra mười ác nghiệp (sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, nói lời độc ác, tham lam, sân hận, si mê).
- Thân: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm.
- Khẩu: Nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, nói lời độc ác.
- Ý: Tham lam, sân hận, si mê.
- Mình tự làm mười điều ác, dạy người làm mười điều ác, chấp nhận người làm mười điều ác, khen ngợi người làm mười điều ác. Như vậy, trong một khoảnh khắc, trong một niệm tâm, khởi ra bốn mươi điều ác. Những tội như thế vô lượng vô biên.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 1, phẩm Người Đón Xe, Ba Pháp, trang 204, đức Phật dạy:
- Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thế nào là ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác.
- Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Đoạn kinh này đức Phật chỉ cho ta thấy rõ mọi khổ lụy cũng bắt nguồn từ thân làm ác, miệng nói ác và ý nghĩ ác. Ba nghiệp là cội nguồn của khổ đau và đọa lạc. Như thế nào là thân làm ác? Nghĩa là sát sinh, trộm cắp, tà dâm.
- Sát sinh: Là cướp đi mạng sống của muôn loài, ví dụ như giết người và các loài có mạng sống. Quả báo của sát sinh là bị nhiều bệnh, sức khỏe yếu, đoản mạng.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, phẩm Nghiệp Đạo, Chấp Nhận, trang 298, Phật nói:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình sát sinh, khích lệ người khác sát sinh, chấp nhận sát sinh và tán thán sát sinh.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Trộm cắp: Lấy của người khác. Từ những vật nhỏ như ngọn cỏ, cây kim đến những vật lớn như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu, người ta không cho thì không được lấy. Nếu lấy là phạm tội. Quả báo của trộm cắp sẽ bị nghèo khổ.
Như kinh trên, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình lấy của không cho, khích lệ người khác lấy của không cho, chấp nhận lấy của không cho và tán thán lấy của không cho.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Tà dâm: Cho phép một vợ, một chồng chân chính. Nếu có vợ rồi mà còn đi bắt bướm hái hoa là tà dâm. Nếu có chồng rồi mà còn đi ngoại tình là tà dâm.
Tham tâm tà dâm có hại gì?
1. Làm cho vợ chồng buồn khổ, ghen tương.
2. Làm cho mất lòng tin cậy nhau.
3. Thân mạng gởi trên đao gươm.
4. Gia đình dần dần suy sụp.
5. Mắc phải quả báo xấu về sau, chồng hay vợ con sinh lòng lang chạ.
Như kinh trên, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình tà hạnh trong các dục, khích lệ người khác tà hạnh trong các dục, chấp nhận tà hạnh trong các dục, và tán thán tà hạnh trong các dục.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Vậy, nhân tà dâm là nhân khổ đau và đọa lạc. Thế nào là miệng nói ác? Nghĩa là nói dối, nói hai lưỡi, nói lời phù phiếm, nói lời ác.
- Nói dối: Nói sai sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có; nghe nói không nghe, không nghe nói nghe; trái nói phải, phải nói trái; trước mặt khen, sau lưng chê; bằng mặt, không bằng lòng. Như kinh trên, trang 299 đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình nói láo, khích lệ người khác nói láo, chấp nhận nói láo, và tán thán nói láo.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Nói hai lưỡi: Hạng người này thường đi nói xấu người này, người kia; qua bên này nói xấu bên kia, qua bên kia nói xấu bên này, làm cho hai bên hiểu lầm nhau, rồi gây ra xích mích, đấu đá, hận thù, chia rẽ, đổ vỡ và xa lánh.
Như kinh trên, trang 299 đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình nói hai lưỡi, khích lệ người khác nói hai lưỡi, chấp nhận nói hai lưỡi, và tán thán nói hai lưỡi.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Nói lời phù phiếm: Nói hoa mỹ làm mê hoặc lòng người, nói sai chân lý, dẫn dắt mọi người vào con đường tà đạo mê tín.
Như kinh trên, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình nói lời phù phiếm, khích lệ người khác nói lời phù phiếm, chấp nhận nói lời phù phiếm, và tán thán nói lời phù phiếm.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Nói lời thô ác: Là những lời quát tháo, mắng chửi, sân hận, phiền não, thô tục. Chính những lời nói này, làm cho mọi người ăn không ngon, ngũ không yên.
Như kinh trên, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình nói lời thô ác, khích lệ người khác nói lời thô ác, chấp nhận nói lời thô ác, và tán thán nói lời thô ác.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Như thế nào là ý ác? Nghĩa là tham lam, sân hận, si mê.
- Tham lam: Vì chấp bản ngã nên con người đấu tranh, giành giật để tìm đủ mọi thứ chăm sóc cho cái ngã. Vì cái ngã mà ta đã tạo ra biết bao tội lỗi; vì cái ngã nên khiến ta phải tham đủ thứ như: tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, ăn ngon, ngũ kỷ v.v… Suốt cuộc đời chỉ làm nô lệ cho cái ngã.
Như kinh trên, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình tham dục, khích lệ người khác tham dục, chấp nhận tham dục, và tán thán tham dục.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Sân hận: Vì chấp ngã nên nghe ai nói xấu mình, mình không chịu được. “Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai” (chỉ cần một niệm sân hận khởi lên thì trăm ngàn cửa chướng mở ra). Tâm sân hận khởi lên, chúng ta có thể tạo vô số ác nghiệp. Cho dù chúng ta tinh tấn tu tập, phước đức rất nhiều, nhưng khi chúng ta không chánh niệm, tỉnh thức để cho tâm sân hận khởi lên, phước đức chúng ta dễ bị tiêu tán.
Sân hận như lửa dữ,
Làm hư hoại nhung nhan,
Thiêu đốt cả tâm can,
Cháy tan rừng công đức.
Cái hại của bực tức,
Làm khổ mình và người,
Hiện đời không an lạc,
Chết vào ba đường ác.
Mặt em như hoa
Giận lên thấy già
Nhăn nheo xấu xí
Còn gì là hoa
Mặt em đẹp xinh
Giận lên thấy kinh
Phùng mang trợi mắt
Chẳng ai dám nhìn.
Mặt em hiền lành
Giận lên dữ dằn
Giống như La-sát
Chẳng khác bà chằng.
Như kinh trên, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình có tâm sân hận, khích lệ người khác có tâm sân hận, chấp nhận có tâm sân hận, và tán thán có tâm sân hận.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
- Si mê: Không nhận chân được các pháp là vô ngã, không thấy đúng như thật, luôn tà kiến. Chính tâm si mê u tối này khiến ta phải tham lam, sân hận đủ điều. Nói cách khác, do chấp ngã nên mọi tội lỗi cũng bắt nguồn từ đây. Nếu thấy vô ngã là thấy
Niết-bàn, an lạc và giải thoát. Như kinh trên, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình có tà kiến, khích lệ người khác có tà kiến, chấp nhận tà kiến, và tán thán tà kiến.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Ba nghiệp cũng là cội nguồn của an lạc, hạnh phúc và giải thoát thành Phật. Kinh Tăng Chi Bộ, tập 1, phẩm Người Đón Xe, Ba Pháp, trang 204, đức Phật dạy:
- Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai. Thế nào là ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện.
- Có ba pháp này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai.
Đoạn kinh này, Phật chỉ cho ta biết được con đường đoạn diệt khổ đau, đem đến an vui, hạnh phúc. Con đường đó là gì? Đó là thân làm thiện, miệng nói thiện và ý nghĩ thiện.
Thế nào là thân làm thiện? Nghĩa là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
- Không sát sinh: Không giết người và các loại có mạng sống. Biết tập ăn chay kỳ, ăn chay trường. Không chỉ thế mà còn biết phóng sinh. Những ai sống mà biết thương yêu chúng sinh thì chắc chắn họ sẽ có an vui, hạnh phúc ngay hiện kiếp cũng như mai sau.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, phẩm Nghiệp Đạo, Chấp Nhận, trang 298, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ sát sinh, khích lệ người khác từ bỏ sát sinh, chấp nhận Từ bỏ sát sinh, và tán thán từ bỏ sát sinh.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Tại sao đức Phật dạy không được sát sinh? Vì tôn trọng sự sống, tôn trọng Phật tánh bình đẳng, nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh quả báo oán thù, để đem lại tình thương, trường thọ, sống lâu và sức khỏe cho muôn loài.
Đức Phật dạy: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh”, nghĩa là tất cả muôn loài đều có bản tánh chân tâm sáng suốt của Phật, đều ham sống sợ chết. Chúng ta giết chết bất cứ loài vật nào cũng giống như ta giết chết môt vị Phật tương lai. Không những thế mà ta còn giết chết cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc của mình từ vô lượng kiếp.
Kinh Phạm Võng, phẩm Bồ-tát Giới đã nói lên điều đó: “Tất cả người nữ là mẹ ta, tất cả người nam là cha ta, mỗi đời ta từ đó sinh ra, chúng sinh trong lục đạo đều là cha mẹ của ta, nếu ta giết mà ăn là ta giết cha mẹ của chúng ta”.
Nếu trên cõi đời này, mọi người cùng giữ giới không sát sinh thì thế giới sẽ hòa bình, không còn giết hại, chiến tranh và khủng bố.
Nhất thiết chúng sinh vô sát nghiệp,
Thập phương hà xứ động đao binh.
Gia gia, hộ hộ đồng tu thiện,
Thiên hạ hà sầu bất thái bình.
Nghĩa là:
Tất cả chúng sinh không nghiệp giết,
Mười phương nào có nỗi đao binh.
Mỗi nhà, mỗi chốn đều tu thiện,
Lo gì thiên hạ chẳng thái bình.
- Không trộm cắp: Nghĩa là không lấy một vật gì thuộc sở hữu của người khác, dù vật đó nhỏ hay lớn. Chính nhân trộm cắp này đã gây ra biết bao nhiêu nỗi khổ niềm đau cho nhau. Nếu mình lấy của người thì người đau khổ, người lấy của mình thì mình đau khổ. Vậy để đem lại an lạc, hạnh phúc cho nhau thì đừng bao giờ lấy của nhau. Không lấy của nhau mà còn biết bố thí, giúp đỡ người nghèo, ấy mới là những việc cần ích.
Đức Phật dạy: “Nếu ở đời ai hay ăn cắp của người thì hiện tại bị mọi người chê trách và xa lánh, kiếp sau sẽ bị nghèo khổ và mang lông, đội sừng trả nợ cho người. Nếu ở đời ai hay bố thí, sống cuộc đời rộng rãi với chúng sanh, thì hiện tại được mọi người kính quý, thương yêu, tương lai sẽ được giàu sang, vinh hiển”.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ lấy của không cho, khích lệ người khác từ bỏ lấy của không cho, chấp nhận từ bỏ lấy của không cho, và tán thán từ bỏ lấy của không cho.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời.
- Không tà dâm: Đã là vợ chồng thì phải tôn trọng lẫn nhau, phải yêu thương nhau, phải chung thủy trước sau như một. Hai người cùng đồng tâm hiệp lực và cùng xoay về một hướng, biết quy y Tam Bảo, sống và hành theo lời Phật dạy. Một cặp vợ chồng luôn biết yêu thương nhau, cùng động viên nhau tu tập thì hạnh phúc sẽ đến trong hiện tại và mai sau.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khích lệ người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, chấp nhận từ bỏ tà hạnh trong các dục, và tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là miệng nói thiện? Nghĩa là không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời phù phiếm, không nói lời ác độc, mà miệng lúc nào cũng nói những lời hay ý đẹp, luôn nói lời ái ngữ làm mát dịu lòng người.
Xin nói nhẹ nhàng
Dịu dàng dễ thương
Như sen tỏa hương
Làm đẹp lòng người.
Những ai luôn chánh niệm về lời nói, biết nói lời chân thật và biết xa lìa lời nói láo, hiện tại được an vui, tương lai sinh vào cõi thiện.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ nói láo, khích lệ người khác từ bỏ nói láo, chấp nhận từ bỏ nói láo, và tán thán từ bỏ nói láo.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Những ai luôn chánh niệm về lời nói, biết nói lời chân thật và biết xa lìa lời nói hai lưỡi, hiện tại được an vui, tương lai sinh vào cõi thiện.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khích lệ người khác từ bỏ nói hai lưỡi, chấp nhận từ bỏ nói hai lưỡi, và tán thán từ bỏ nói hai lưỡi.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Những ai luôn chánh niệm về lời nói, biết nói lời chân thật và biết xa lìa lời nói phù phiếm, hiện tại được an vui, tương lai sinh vào cõi thiện.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm, khích lệ người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, chấp nhận từ bỏ nói lời phù phiếm, và tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Những ai luôn chánh niệm về lời nói, biết nói lời dễ thương và biết xa lìa lời nói ác độc, hiện tại được an vui, tương lai sinh vào cõi thiện.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 299, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ nói lời ác độc, khích lệ người khác từ bỏ nói lời ác độc, chấp nhận từ bỏ nói lời ác độc, và tán thán từ bỏ nói lời ác độc.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời.
Thế nào là ý thiện? Nghĩa là không tham lam, không sân hận, không si mê.
- Không tham lam: Nghĩa là thấu rõ các pháp là vô ngã, vô thường. Tất cả vạn vật hiện hữu trên cõi đời này đều luôn thay đổi, biến chuyển, ảo mộng như điện chớp, mây bay, giọt sương đầu ngọn cỏ, như bèo dạt mây trôi, không thật có. Chúng ta luôn thấu hiểu, luôn chánh kiến, luôn tư duy như thế thì sẽ xa lìa chấp ngã, xa lìa chấp ngã tức là xa lìa tham lam, xa lìa tham lam tức là đạt đến vô ngã. Vô ngã là Niết-bàn, an vui và giải thoát. Nếu ai xa lìa tham dục thì hiện tại họ sẽ an vui, giải thoát, về sau được sinh lên cõi lành.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ tham dục, khích lệ người khác từ bỏ tham dục, chấp nhận từ bỏ tham dục, và tán thán từ bỏ tham dục.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời.
- Không sân hận: Người trí thấu rõ các pháp là vô ngã, là vô thường thì tâm sân hận sẽ vắng bóng. Biết tâm sân hận, buồn bực là cội gốc của khổ đau và đọa lạc thì họ sẽ sớm xa lìa sân hận. Xa lìa sân hận thì hiện tại được an vui, về sau được sinh lên cõi lành.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ sân hận, khích lệ người khác từ bỏ sân hận, chấp nhận từ bỏ sân hận, và tán thán từ bỏ sân hận.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời.
- Không si mê: Nghĩa là nhận chân được thật tướng các pháp là vô ngã, vô thường. Hiểu rõ đâu tà, đâu là chánh; đâu là giả, đâu là thật; đâu là con đường nên đi, đâu là con đường nên tránh; tin sâu nhân quả, luôn thực hành theo chánh đạo. Nhìn đời bằng con mắt chánh kiến và chánh tư duy. Người luôn hiểu biết, sáng suốt nhìn đúng như thật thì hiện tại họ sẽ được an lạc, hạnh phúc, tương lai sẽ sinh về cõi lành.
Kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, Chấp Nhận, trang 300, đức Phật dạy:
- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời. Thế nào là với bốn pháp?
- Tự mình từ bỏ tà kiến, khích lệ người khác từ bỏ tà kiến, chấp nhận từ bỏ tà kiến, và tán thán từ bỏ tà kiến.
- Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sinh lên cõi trời.
Đời sống của chúng ta có hạnh phúc hay đau khổ, giải thoát hay đọa lạc cũng đều do ba nghiệp quyết định. Do vậy, chúng ta hãy luôn chánh niệm, tỉnh thức tu tập cho ba nghiệp được thanh tịnh, để niềm vui, an lạc luôn đến với ta.
Qua nội dung Sự Thật Cuộc Đời đã hình thành cho chúng ta một nhận thức căn bản: khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta không mang được gì, mà chỉ mang theo nghiệp lực. Vì thế, là người hiểu đạo, thiết nghĩ chúng ta phải nên gấp rút mượn đời sống vật chất giả tạm này, siêng năng tu tập hầu sớm giải thoát khổ đau trong hiện tại cũng như tương lai.
*
Thích Tâm Hải
