Sự khác biệt

Về cơ bản thì chúng ta thấy đó là hai hạng người chính mà khi đối diện với các tình huống, hoàn cảnh trong cuộc sống, thì họ sẽ có hai xu thế xử lý như vậy. Hai hạng người này cũng chính là hai hạng người được đức Phật đề cập đến trong Tương Ưng Bộ Kinh, đó là: kẻ vô văn phàm phu và bậc đa văn Thánh đệ tử.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, chương số 36, bài kinh Với Mũi Tên, đức Thế Tôn chỉ dạy các hàng Tỳ-kheo như sau:
“Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy cảm thấy sân hận. Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ, người ấy tìm hoan hỷ nơi dục lạc. Vì sao? Vì rằng kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác ngoài dục lạc. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.
Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, hay cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ thì người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Này các Tỳ-kheo, bậc đa văn Thánh đệ tử, khi cảm xúc cảm giác khổ thọ thì không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân không cảm thọ về tâm.
Vị ấy không cảm thấy sân hận với khổ thọ ấy, do không cảm thấy không sân hận đối với khổ thọ ấy, nên sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không tìm hoan hỷ nơi dục lạc. Vì sao? Vì bậc đa văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ ngoài dục lạc. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Do vậy mà vô minh không có tồn tại.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, hay cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc đa văn Thánh đệ tử không bị trói buộc bởi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Này các Tỳ-kheo, đây là sự đặc thù, là thù thắng, là sự khác biệt giữa bậc đa văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu”.
Qua bài kinh này, chúng ta thấy đức Phật chỉ ra hai hạng người mà khi đối diện với cùng một tình huống, cùng một hoàn cảnh thì cách tiếp nhận và xử lý là hoàn toàn khác nhau. Hạng vô văn phàm phu thì khi đối diện với khổ thọ, sân sẽ xuất hiện. Nó tồn tài song song với khổ thọ, tức là khi khổ xuất hiện thì sân xuất hiện. Và người ấy tìm cách xuất ly khổ thọ bằng cách tìm kiếm dục lạc. Điều này chúng ta thấy nó rất nguy hiểm. Ví như một người khi gặp chuyện gì đó buồn rầu mà tìm đến rượu giải khuây; nhưng khi uống rượu vào dẫn đến bị say, từ đó làm cho bản thân mất kiểm soát. Khi đó, những thói quen và tập khí đã được huân tập từ nhiều đời nhiều kiếp, có thuận duyên lớn nhất được hiển lộ. Chính vì vậy mà các ác nghiệp phát sinh, dẫn đến chịu quả báo xấu ác trong tương lai.
Hay cũng giống như một người khi đang khát nước, mà lại tìm cách giải quyết cơn khát bằng việc uống nước biển, thì trong lúc uống tuy có được cảm giác lạc thọ một chút, nhưng ngay sau đó cơn khát lại càng dữ dội hơn.
Đức Phật chỉ ra nguyên nhân là do họ không như thật rõ biết về sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ, tức là họ không hiểu về Tứ đế, Vô thường, Vô ngã, Duyên sinh, Bát chánh đạo…
Bậc đa văn Thánh đệ tử khi đối diện với hoàn cảnh, họ sẽ tiếp nhận và xử lý bằng chánh niệm tỉnh giác, vì họ đã có sự huấn luyện về cách nhận biết và điều phục tâm. Vị ấy thấy rõ sự nguy hiểm của dục lạc, và có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ ngoài dục lạc. Đây là kết quả của sự tu tập và huấn luyện tâm dựa trên nên tảng về giáo lý Vô thường, Vô ngã, Nhân quả, Duyên sinh, Bát chánh đạo…
Thời Phật còn tại thế, có một bà đại thí chủ tên và Visakha. Sau khi đứa cháu gái mà bà rất mực yêu thương chẳng may qua đời, bà đến bạch Phật và thổ lộ niềm đau khổ ấy của mình. Phật thấy thế đã hỏi bà rằng: “Này Visakha, con nghĩ sao nếu cả thành phố này đều trở thành con cháu và quyến thuộc của con?”. Bà trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, nếu mà như vậy con sẽ cảm thấy rất vui mừng và hạnh phúc”. Khi đó, đức Phật nói tiếp: “Này Visakha, nếu cả thành phố này đều trở thành bà con quyến thuộc của con thì ngày nào con cũng phải khóc, ngày nào con cũng phải đau khổ, vì ở thành phố này ngày nào cũng có người chết”.
Khi nghe đức Phật nói vậy, bà mới bừng tỉnh và nhận ra rằng: nếu tâm mình càng nặng nề, càng nhiều đối tượng để nắm níu thì sẽ càng thêm khổ mà thôi.
Người ta nói rằng: kẻ giàu nhất không phải là kẻ muốn gì cũng được, mà chính là kẻ sống sao cũng được, hoàn cảnh nào cũng có thể thích nghi. Tức là gì? Tức là ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ấy cũng không bị chi phối bởi nỗi khổ niềm đau, tham đắm, chấp trước. Họ biết cách truy tìm nguyên nhân, sự đoạn diệt và phương pháp để thoát ra khỏi nó.
Chúng ta là đệ tử của đức Phật, học và hành theo giáo pháp của Ngài để mong có được sự an lạc và giải thoát, thì cũng chính là lộ trình của sự chuyển hóa từ kẻ vô văn phàm phu đến bậc đa văn Thánh đệ tử. Muốn vậy, đức Phật dạy chúng ta: cho dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào, nghịch cảnh hay thuận duyên, thì cũng không được để sự sân hận và dục lạc chi phối, ràng buộc. Phải tu tập, huấn luyện tâm để nhận rõ và quán chiếu về nguyên nhân, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly tất cả các cảm thọ. Có thực tập như vậy thì sau nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều kiếp, chúng ta mới có thể chứng được đạo quả, sự giác ngộ và giải thoát như đức Phật.
Tâm Nguyệt
