Pháp Môn Tịnh Độ
Giải Đáp
Giải Đáp
1. CÂU HỎI ĐÁP VĂN CỐC QUẢNG ẤN

Hỏi: Người xưa đã tiếp nhận pháp “truyền riêng chỉ thẳng”, sau đó tu Tịnh nghiệp mong muốn vãng sinh, là ngộ rồi theo nguyện khởi hạnh chăng? Hay là chưa ngộ mà tu cả hai hạnh? Nếu tu cả hai thì rơi vào tâm bị chia rẽ nhiều lối, công phu sao được thành khối?

Nếu đã ngộ thì mỗi hạt bụi đều là thế giới Hoa Tạng, nơi nào cũng là cõi nước An Lạc, khắp mười phương không nơi nào chẳng thế. Sao lại chỉ thích sinh về Tây Phương?

Đáp: Người thật tin Tịnh độ quyết chí vãng sinh thì chẳng luận đã ngộ hay chưa ngộ.

Người theo pháp “truyền riêng chỉ thẳng” nhưng chưa ngộ, tuy hằng ngày tham Thiền mà chẳng phát nguyện vãng sinh, vì còn phải thọ thân sau, do đó, rốt cuộc còn có chỗ sinh, không phải là tâm bị chia rẽ nhiều lối.

Người đã ngộ thì người xưa nói: “Ông cho rằng vừa ngộ liền sánh bằng chư Phật sao!”.

Thế nên, ngài Phổ Hiền làm Trưởng tử ở thế giới Hoa Tạng. Tuy mỗi hạt bụi đều là thế giới Hoa Tạng, nơi nào cũng là cõi nước An Lạc mà trong phẩm Hạnh Nguyện cũng thành khẩn phát nguyện vãng sinh Cực Lạc. Bậc đã ngộ còn vậy, huống chi người chưa ngộ!

*

Hỏi: Thiết nghĩ: Tham Thiền quý ở chỗ “một tâm không sinh”. Niệm Phật quý ở chỗ “tịnh niệm liên tục”.

Một môn tham cứu niệm Phật này, ý ở nơi tỏ ngộ mà được vãng sinh. Nay lúc niệm, tuy tâm Phật rõ ràng, còn khi tham cứu thì cả hai đều dứt. Do đoạn dứt nên công phu tham cứu dần dần tiến bước, nhưng niệm lực dần dần lui sụt. Thế thì sau này, lẽ nào được vừa ngộ vừa vãng sinh?

Đáp: “Một niệm không sinh” là Thiền chẳng phải tham cứu, khởi niệm nghi tình mới gọi là tham cứu. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Lại dùng tâm này mà cứu xét tới lui…”, chính là nói điều này.

Khi niệm Phật, lúc tham cứu đều thuộc về hữu niệm cũng không chống trái nhau.

*

2. ĐÁP TIỀN DƯỠNG TRUÂN CHÂU THỦ QUẢNG NGHIÊM

Hỏi: Tâm này buông lung đã lâu, tuy dùng câu niệm Phật thu nhiếp tạm được lại mất. Làm sao giữ gìn?

Đáp: Ví như nơi phản nghịch đã lâu, một trận đánh không thể thành công. Chỉ cần kiên trì dũng mãnh không thối lui, đợi đến lúc tâm địa tỏ sáng tự nhiên, một khi được là được mãi mãi.

*

Hỏi: Con vượn mới được nhốt lại, dần dần liền hôn trầm, sách tấn tỉnh táo thì lại tán loạn. Làm sao hàng phục?

Đáp: Lặng lẽ trị tán loạn, toán loạn dừng thì sinh hôn trầm. Tỉnh táo trị hôn trầm, hôn trầm dứt thì sinh tán loạn. Nên thực hành Chỉ Quán song song, tán loạn hôn trầm đều thối lui. Nay chỉ cần tinh minh niệm Phật. Niệm không có hai niệm gọi là tinh, niệm mà soi trở lại là minh. Tinh là Chỉ, minh là Quán. Một pháp niệm Phật mà đầy đủ Chỉ Quán.

*

Hỏi: Trong kinh Lăng-nghiêm, đoạn bảy chỗ hỏi về tâm nói: “Tâm không ở trong ngoài chặng giữa”.

Nhị Tổ hỏi pháp an tâm, tìm tâm không thể được. Tổ Đạt-ma nói: “Ta đã an tâm cho ông rồi”. Đây chẳng phải là cảnh giới phàm phu. Nay tôi muốn ở chỗ đối diện với vọng niệm thì như thế nào?

Đáp: Đừng quan tâm bảy chỗ, tám chỗ; đừng quan tâm an với không an; cũng đừng quan tâm đối diện với không đối diện; chỉ cần nhất tâm niệm Phật.

Người xưa nói: “Tiến thẳng tới Vô Thượng Bồ-đề, tất cả phải trái đừng quan tâm”.

*

Hỏi: Nghề nghiệp nuôi sống thật không trái với Thật tướng. Phật Pháp thệ nguyện tế độ khắp cả chẳng tiếc thân mạng mà tâm lo về nghề nghiệp nuôi sống còn một phần mười, làm sao hiểu thấu trọn vẹn?

Đáp: Nếu một bề đề cao việc hướng thượng thì không chỉ nghề nghiệp nuôi sống mà ngay cả sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối cũng đâu từng trái với Thật tướng.

Nay, đứng về thế gian mà luận, một phần mười là lẽ thường ở thế gian, cũng không chướng ngại đối với đạo. Nếu người lừa dối thủ lợi thì mới không được.

*

3. ĐÁP CHU TÂY TÔNG CƯ SĨ

Hỏi: Trong đau khổ bức bách làm sao niệm Phật?

Đáp: Khổng tử nói: “Người quân tử dù trong thời gian một bữa ăn, lúc vội vàng khốn đốn cũng không trái với điều nhân”.

Công phu không trái với điều nhân này, tuy nhất thời không thể đạt tới, nhưng không ngừng thực hành liền trở thành tự nhiên. Huống chi, hành trì lâu ngày bỗng nhiên có chỗ tỉnh ngộ, thì tuy gặp cảnh khổ vui, thuận nghịch mà đạo ở ngay trong ấy. Gọi là “ho, khạc, cúi, ngưỡng đều là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang”, cũng là do thuần thục mà thôi.

Hỏi: Tại sao quán tưởng thân Phật to lớn, tướng hảo Như Lai không thể thành tựu?

Đáp: Bậc Cao đức ngày xưa nói: “Chúng sinh tâm tạp loạn, quán tưởng khó thành”. Bậc Đại Thánh xót thương nên khuyên thẳng chuyên trì danh hiệu.

Nay hãy Trì danh, đặt Quán tưởng sang một bên, đừng bàn luận.

*

4. ĐÁP GIANG QUẢNG HỰU CƯ SĨ   

Hỏi: Nhất tâm không loạn một ngày đến bảy ngày liền được vãng sinh. Hoặc được nhất tâm trong một ngày đến bảy ngày nhưng sau đó lại không nhất tâm. Như thế có được vãng sinh không?

Đáp: Đã có thể nhất tâm thì về sau tâm ít tán loạn, chắc chắn không đến nỗi tán loạn nhiều. Như Nham Hồi ba tháng không trái với điều nhân, lẽ nào sau ba tháng lại trở thành người ác?

Những người ấy trong tâm dù có vọng niệm sinh khởi mà cũng như lò hồng rơi điểm tuyết, chưa tới thì đã tan. Sao lại không được vãng sinh?

*

Hỏi: Người không tin Tịnh độ chỉ e vốn là kẻ bạc phước?

Đáp: Lời nói này rất đúng.

*

5. ĐÁP NGÔ QUẢNG DĨNH CƯ SĨ

Hỏi: Người tu hành, lao động làm việc vốn là bổn phận. Còn người có thân thể gầy yếu khoanh tay ngồi yên, nhiếp tâm niệm Phật có thể được đạo vãng sinh không?

Đáp: Nếu thật có thể nhất tâm không loạn thì được.

*

Hỏi: Niệm Phật quý ở chỗ niệm niệm liên tục, vốn là như vậy. Nhưng có khi không chấn chỉnh oai nghi lại giống như bất kính. Giả như lúc mở khăn, cởi áo, khi nằm trần, tắm rửa, cho đến lúc đại tiện, tiểu tiện đều có thể niệm Phật được không?

Đáp: Niệm thầm không ngại.

*

Hỏi: Giả sử có hai người, một người ăn thịt mà không bỏ việc niệm Phật; một người ăn chay mà tuyệt chẳng niệm Phật. Hai người ấy ai trội hơn?

Đáp: Bệnh của hai người ấy chỉ là một. Người niệm Phật hơn một chút, hơn người kia vì họ không biết có Phật.

*

Hỏi: Niệm Phật hoặc bốn chữ hoặc sáu chữ tương đối có sự phân biệt nhiều và đơn giản. Kinh văn chỉ nói: “Chấp trì danh hiệu”, dường như chỉ là bốn chữ. Hiện nay, trong Tòng lâm đều theo sáu chữ, rốt cuộc ai phải? Đại sư dùng pháp nào?

Đáp: Bốn chữ tự niệm, sáu chữ theo chúng.

*

Hỏi: Trọn ngày niệm Phật, gặp phước thì làm. Thầy tôi dạy rõ như thế. Phàm khi làm phước, tâm ở nơi việc phước thì chẳng ở nơi danh hiệu Phật. Nắm cái này thì bỏ cái kia, có thể gọi là nhất tâm không loạn chăng?

Đáp: Gương sáng vốn rỗng không, vật đến thì hiện, ở nơi sự rỗng không của gương nào có ngại. Việc chưa tới mà trông ngóng, việc đã qua mà lưu giữ, chỉ người như thế mới là bệnh.

*

6. ĐÁP DƯ DIÊU TƯƠNG CƯ SĨ

Dục là cội gốc sinh ra con người, đoạn trừ nó thật khó khăn. Có pháp quán bất tịnh để trị phần ngọn của dục. Cứu xét lại chỗ niệm dục sinh khởi là trị nơi cội gốc. Chỉ cần tham cứu “người niệm Phật” thì chính là đó.

Trì danh niệm Phật hãy chuyên nhất trì danh, nhưng có lúc lễ Phật, quán tưởng cũng được.

*

7. ĐÁP CUNG QUẢNG KỲ CƯ SĨ

Chẳng luận tại gia xuất gia, chỉ cần chấp trì danh hiệu, nhất tâm không loạn. Chính bốn chữ “chấp trì danh hiệu” này là chỗ vào. Chớ nên xem thường hai chữ “chấp trì” này!

“Người niệm Phật là ai?” cùng với ý nghĩa tham Thiền không khác.

Các kinh Đại thừa ông nên xem, nhưng phải lấy chánh niệm làm chủ!

*

8. ĐÁP ĐẠI CẢNH

Ý nghĩa giáo lý và Thiền ở những lời hỏi trước không cần vọng cầu, chỉ tự tinh tấn chuyên cần niệm Phật, niệm đến nhất tâm không loạn tự nhiên sẽ ngộ nhập.

*

9. ĐÁP KHƯƠNG CƯ SĨ

Sau khi bỏ thân này lại mang thân khác, chưa dứt được sinh tử nên cầu sinh về Tịnh độ là quý nhất.

*

10. ĐÁP VỊ QUẢNG KIỀU

(Vì mẹ hư thai cầu lễ sám)

Người xưa nói: “Thà ở Hạ phẩm trong
chín phẩm, chẳng đến nhân gian thọ bào thai”
. Chán ngán bào thai chỉ cần chuyên niệm Phật. Nhất tâm niệm Phật thì được hóa sinh trong hoa sen.

*

Hỏi: (chưa rõ người hỏi) Khi nhất tâm xưng danh hiệu Phật, lại vướng mắc vào sự cầu vãng sinh. Như thế, dường như có hai niệm chăng?

Đáp: Cầu vãng sinh phải phát nguyện sớm chiều. Nếu khi xưng danh hiệu phải nhất tâm niệm không được xen tạp. Ví như người học trò đọc sách làm văn, đó là hành vi (hạnh). Nguyên nhân mà người học trò ấy đọc sách làm văn là vì cái gì? Vì thi đậu, phải làm quan. Đó là tâm nguyện (nguyện).

Ngồi ngay ngắn niệm Phật, e khó thu nhiếp tâm, chẳng bằng đi kinh hành.

Tham cứu “niệm Phật là ai?”, phải có
nghi tình phát khởi. Nghi tình chưa khởi, hãy thầm niệm Phật đi!

Người đạt Thiền định tuy nguyện lực không sâu cũng có thể vãng sinh. Nhưng người tu Tịnh nghiệp phải đủ Tín, Nguyện, Hạnh, như cái đỉnh ba chân không thể thiếu một.

Lúc giáo pháp diệt hết, hễ giơ lên một cọng cỏ liền trở thành súng ống, gươm giáo có thể giết người. Khi ấy, mọi giáo pháp đã diệt chỉ còn một câu A-di-đà cứu người. Nếu có người niệm được trọn vẹn một câu thì làm thầy thế gian.

(Phần trên đều chưa rõ lời hỏi).

*

Sách cùng thể loại
Niệm Phật Luận
Niệm Phật Luận
Đại Sư Thái Hư
Ấn Quang đại sư gia ngôn lục
Ấn Quang đại sư gia ngôn lục
Như Hòa
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà
Thích Pháp Đăng
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung
Thích Tâm Hoà
Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Thích Minh Thành
Tịnh Độ Hoặc Vấn
Tịnh Độ Hoặc Vấn
HT. Thích Thiền Tâm