Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Như thế, đủ biết lòng tha thiết cầu đạo của ông. Nhưng theo cái nhìn nhỏ hẹp của tôi thì ngay nơi tâm chán nản tình trần, ưa thích diệu quán này chính là sự chướng ngại bên trong của người học đạo. Vả lại, tránh huyên náo tìm yên tĩnh, ở đời chưa có phương pháp ấy.
Tình trần quả thật có thể dứt tuyệt chăng? Cần phải biết: “Muôn pháp vốn nhàn, chỉ người tự náo”. Lời nói này rất hay!
Đại sư Ngẫu Ích nói: “Tuy bảo sáu căn dong ruỗi, sáu tình dao động, chín chắn suy tìm. Trần đã không lầm lỗi, căn há lại lỗi lầm! Căn đã không lầm lỗi, tình lẽ nào riêng mình gánh tội!”.
Ba khoa phân tích trên đã không có chủ tể thật sự, dù khiến cho hợp chung lại, cũng đâu có pháp thật.
Thế mà, chúng ta ở trong pháp giả dối ấy chấp chặt nhân ngã, bỏ này lấy kia, cũng như nhặm mắt thấy hoa đốm lăng xăng, còn muốn phân biệt hoa đốm cái nào đẹp cái nào xấu. Như thế, không phải là sai lầm lắm sao? Chỉ đem toàn thể thân tâm thế giới buông bỏ thì mắt trí tuệ sáng ngời, chỗ nào có tình trần để chán.
Song, muốn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ thật ra chẳng ngại phát khởi tâm ưa chán mạnh mẽ. Nếu chấp vào tâm ưa chán này, lại trở thành bệnh sai lầm; hiểu rõ nó thì chỉ là phương tiện. Điều đó cũng ở nơi người thôi.
Nói về diệu quán, kinh Vô Lượng Thọ có nói: “Biển Chánh biến tri của chư Phật, từ nơi tâm tưởng mà sinh. Khi tâm chúng sinh tưởng Phật, tâm này tức là ba mươi hai tướng tốt[1], tám mươi vẻ đẹp[2]. Tâm này làm Phật. Tâm này là Phật”.
Chỉ mấy lời nói này tức là chỗ cốt yếu của Niệm Phật Tam-muội. Tất cả môn quán đều từ đây mà có. Bởi vì biết tâm này làm Phật, mà chẳng biết tâm này là Phật thì rơi vào Quyền thừa Tiểu quả.
Chỉ biết tâm này là Phật mà chẳng biết tâm này làm Phật, ắt rơi vào tà ma ngoại đạo.
Tâm này làm Phật là pháp quán Không và Giả.
Tâm này là Phật tức pháp quán Trung đạo.
Tâm này hoàn toàn là Phật mà làm Phật, hoàn toàn làm Phật mà là Phật.
Một niệm viên dung ba pháp quán. Nên bài kệ trong kinh Đại Tập nói:
Nếu vào định chỉ niệm Di-đà,
Gọi là Thiền sâu mầu vô thượng,
Khi chí tâm tưởng hình tướng Phật
Tức là pháp không sinh không diệt.
Thiền Sư Vĩnh Minh nói:
Một niệm tương ưng một niệm là Phật.
Mỗi niệm tương ưng, mỗi niệm là Phật.
Phật là niệm lý bản giác, niệm là trí thỉ giác. Nên biết ngay khi niệm Phật thỉ giác và bản giác hợp nhau, lý và trí thầm hợp, năng sở đều quên, mình người không hai. Không có Phật ở ngoài niệm, làm niệm và đối tượng để niệm, không có niệm ở ngoài Phật, để mà niệm Phật. Vượt qua tình chấp, rời hẳn bốn câu và một trăm phủ định[3], trực tiếp viên đốn. Không có gì hơn chỗ nầy nữa!
Ngoài sự niệm Phật ra lẽ nào lại có môn diệu quán gì khác để thành tựu?
Thiết nghĩ, thuốc không luận mắc rẻ, lành bệnh là thuốc hay, trị gốc ngọn nên tùy huỡn gấp. Cư sĩ tuổi đời đã cao, biết hồi tâm hướng đạo, dù sống được trăm năm nhưng thời gian còn lại có bao lâu! Nên gắng công trên con đường rất dễ dàng ổn thỏa này, chớ cư sĩ còn tìm hiểu diệu huyền, bồi hồi trông đợi nơi lối tẻ nào khác nữa?
Lúc trước, khi tôi gặp cư sĩ chẳng những không bàn về pháp quán tưởng nhiệm mầu (môn diệu quán), chỉ nói sơ lược thôi mà bàn nhiều về thời khóa hàng ngày, chỉ lấy sáu chữ Di-đà khuyên bảo với nhau. Đây chính là phương thuốc tiên hay chữa lành bệnh nguy cấp. Lại còn trị cả gốc lẫn ngọn, huỡn gấp đều hợp nghi, chỉ quý ở chỗ tin sâu, gắng sức thực hành. Người xưa nói: “Chỉ cần thấy Phật Di-đà, lo gì chẳng được khai ngộ”. Thế thì, tình trần nào mà chẳng tiêu tan, Tam-muội nào mà chẳng hiện tiền!
Song hôm nay, dù có trăm ngàn pháp môn, vô lượng nghĩa lý vi diệu đều đặt sang một bên không dùng, chỉ tặng nhau một vị, một đơn thuốc này. Nếu chẳng quả quyết mạnh mẽ đồng thời gắng sức chuyên tâm trì niệm, thì lấy gì để phấn chấn tự lập?
Nếu nhất định bảo rằng: công hiệu của trì danh không bằng quán tưởng thì đối với thân tướng vi diệu trang nghiêm của Phật Di-đà cùng pháp quán sâu sắc, vi tế trong kinh luận mở ra, e kẻ phàm phu mới tu không dễ gì thành tựu. Rốt cuộc chẳng bằng y theo kinh Di-đà chuyên nhất trì danh là ổn thỏa. Chỉ cần khi trì danh thấu rõ Sự Lý, nhất tâm không loạn thì đó tức là cảnh quán, không cần mong cầu huyền diệu gì khác.
Cảm thấy lão cư sĩ vô cùng chân thành, quên cả tuổi cao, ân cần thưa hỏi kẻ dưới, nên mới dám đem cái thấy nhỏ hẹp của mình nói thẳng hết ra mà không kiêng kỵ gì cả. Xin ông xét nét chọn lựa xem thế nào?
*
[1] Ba mươi hai tướng tốt: 32 tướng tốt, gồm: 1. Bàn chân bằng thẳng; 2. Chỉ dưới bàn chân có tướng bánh xe ngàn căm; 3. Ngón tay dài, trước đầu ngón tay nhỏ và nhọn; 4. Tay, chân đều mềm dịu; 5. Trong kẻ tay, kẻ chân có da mỏng như giăng lưới; 6. Gót chân đầy đặn; 7. Trên bàn chân nổi cao đầy đặn; 8. Bắp vế tròn như bắp chuối; 9. Khi đứng hai tay dài quá đầu gối; 10.
[2] Tám mươi vẻ đẹp: 80 vẻ đẹp. Có nhiều thuyết mô tả khác nhau. Theo kinh Đại Bát-nhã 381 thì 80 vẻ đẹp là: 1. Móng tay thon dài, mỏng bóng; 2. Ngón tay, chân tròn và thon dài, mềm dịu; 3. Tay chân cân xứng, giữa các ngón khi khép lại thì đầy kín; 4. Tay chân sáng bóng, tươi dài; 5. Gân cốt ẩn, không hiện; 6. Hai mắt cá chân đều ẩn; 7. Bước đi thẳng tới trước, oai nghi khoan thai như Long tượng vương; 8. Bước đi oai nghi tề chỉnh như Sư tử chúa; 9. Bước đi vững vàng như ngưu vương; 10. Cách tiến dừng uyển chuyển thanh nhã như nga vương; 11. Quay nhìn đều quay bên phải như Tượng vương nhấc mình di chuyển; 12. Các khớp tay và chân đều đặn tròn đẹp; 13. Đốt xương liền lạc như rồng cuộn; 14. Đầu gối tròn đầy; 15. Chỗ kín có vân xinh đẹp thanh lịch; 16.
[3] Bốn câu và một trăm phủ định: là lời nói thường dùng để dẹp sự mê chấp sai lầm, đối đãi về có không của chúng sinh nhằm nói rõ lẽ thật chân không, không có tướng để nắm bắt, giúp người tu đạt đến cảnh giới vắng lặng không còn suy nghĩ phân biệt. Bốn câu là: có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không. Một trăm phủ định là: chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.






