Tịnh Độ Cảnh Ngữ
Trong Tịnh Tín Tập của Đại sư Ngẫu Ích nói: “Chân tánh vốn lặng lẽ chiếu soi, nhưng bị ngũ trụ trần lao[1] che lấp, cho nên ít có người hằng sống với chân tánh ấy. Mặc dầu Tứ thiền[2], Tứ không[3] cho đến cõi phương tiện, cũng chỉ là quán trọ mà thôi”. Ý nghĩa của thời gian ở trọ rất rộng vậy ư? Phàm ở trọ phải có người ở trọ và chỗ trọ. Đã là người ở trọ, ắt phải có chúng bạn, cũng phải có chỗ dừng chân, cũng phải có bản nghiệp. Nay xét rộng thì ba cõi chỉ là một quán trọ, như chúng sinh có bản nghiệp khác nhau: nghiệp vốn đã khác nhau thì nơi trọ và chúng bạn cũng khác nhau vậy. Than ôi! Từ vô thỉ đến nay, trải qua số kiếp nhiều như cát bụi, xương cốt mà ta đã bỏ, chất lại cao hơn núi Tỳ-phú-la; sữa mẹ mà ta đã nhận, tính ra nhiều hơn nước biển cả. Những cảnh bồng bềnh, những nỗi khổ trôi dạt trong đó nhiều không kể xiết.
Có lúc làm bạn với chúng sinh trong địa ngục thì năm tội nghịch, mười điều ác là bản nghiệp. Ngục Hữu gián hay Vô gián là quán trọ; có lúc làm bạn với loài ngạ quỷ thì tham lam, bỏn xẻn là bản nghiệp, đồng hoang, đắm núi là quán trọ; có lúc làm bạn với loài súc sinh thì ngu si là bản nghiệp, mặt đất, dưới nước, hư không là quán trọ; có lúc làm bạn với A-tu-la thì sân hận, kiêu mạn là bản nghiệp, núi Tu-di và biển cả là quán trọ; có lúc làm bạn với loài người thì Tam cương Ngũ thường là bản nghiệp, các cõi nước trong bốn châu[4] là quán trọ; có lúc làm bạn với chư thiên ở cõi Dục thì năm giới và mười điều lành là bản nghiệp; có lúc làm bạn với chư thiên ở cõi Sắc và Vô sắc thì thiền định là bản nghiệp, Tứ thiền, Tứ không là quán trọ. Vừa mới đến ở trọ liền chấp trước, không biết đó là chỗ ở tạm thời. Than ôi! Giấc mộng cố hương vẫn còn mờ mịt, sống nơi quán trọ đâu thể là cứu cánh? Nếu chẳng nương An Dưỡng để vượt ra ba cõi, tỏ ngộ Tịch Quang mà đạt đến chỗ tận cùng thì đâu thể ra ngoài ý nghĩa ở trọ.
Cư sĩ Uông Nhuận Sinh ở Thiên Đô, pháp danh Tánh Tịnh, tự là Lữ Tam, xa nhà du học nhiều năm, tuổi già về sống ở Cầm Xuyên. Con nối nghiệp đã lớn lại có tài, sớm nắm giữ được gia nghiệp, cho nên cư sĩ không bị hoàn cảnh gia đình trói buộc. Tuy nhà cửa rộng lớn khang trang có thể vui hưởng tuổi già, nhưng cư sĩ xem nó rỗng không như nhà trọ, trường trai thờ Phật, vui sống đạm bạc, không mong cầu, chỉ khẩn thiết đối với việc học đạo tu hành.
Ngày mồng một tháng tám năm Ất Mão, niên hiệu Khang Hy là ngày mừng thọ ông tròn bảy mươi tuổi, các bè bạn thân thuộc xa gần tranh nhau làm văn, các thơ chúc tụng, cư sĩ đều từ chối không xem, dù có xem cũng chỉ qua loa rồi nói rằng: “Những việc ấy chỉ lòng vòng nơi tai mắt, đem những lời nịnh hót đến để làm xấu tên ta mà thôi, sao bằng nói lời chánh pháp bổ ích cho tâm ta!”.
Cư sĩ bèn thỉnh tôi luận về tên tự “Lữ Tam”. Tôi nghĩ rằng: “Cư sĩ đã ở trọ (Lữ) trong ba (Tam) cõi thì chỗ trọ đó rất rộng lớn, đâu chỉ có Thiên Đô và Cầm Ấp thôi sao?”. Nhưng tôi trộm nghĩ: “Những người cùng dòng dõi thân thuộc của ông, phần nhiều đều là những người buôn bán châu ngọc, rong ruổi khắp bốn phương, họ chỉ biết thu hoạch mối lợi, chưa thể hiểu tận cùng ý nghĩa của chỗ trọ đó. Nay cư sĩ tạm ở chỗ này, giả sử có người đến chỉ cho ông mưu kế nấu biển của Ỷ Sinh, dâng cho ông cái kế dọn núi của Quách Thị thì tôi biết cư sĩ ắt sẽ bịt tai mà bỏ đi!”. Chỉ riêng trong lúc chúc thọ tuổi bảy mươi này, mà có thể từ chối chén rượu mừng, không ngồi bên đỉnh thịt tế, lại hỏi tôi về bến bờ đạm bạc, vắng lặng, thưa hỏi yếu chỉ nghịch thế, trái tục. Có thể cho rằng cư sĩ đức chân thuần chưa mất, tánh chất phác vẫn còn, như thế gần với đạo chưa?
Đáp: Vẫn còn chưa phải!
Đã gọi là Lữ Tam (ở trọ trong ba cõi) thì tất cả pháp đều là Lữ (trọ), lại không có pháp nào vượt ngoài chữ Lữ, tức là hễ gặp chỗ nào cũng liền đắm trước, không biết đó là chỗ trọ, ấy là “Lý tánh lữ”.
Hiểu rõ ba cõi đều là quán trọ bản nghiệp, chỗ ở, chúng bạn, mỗi mỗi đều sai khác, đó là “Danh tự lữ’.
Biết đó chẳng phải là nhà nên không trụ, không chấp trước, ở nơi cảnh thô xấu, nên không sinh tham luyến; đó là “Quán hạnh lữ”.
Đối với phiền não khách trần, dùng phương tiện mà điều phục, giấc mộng ở trọ dài đăng đẳng, dường như sắp tỉnh, đó là “Tương tợ lữ”.
Không lìa pháp giới, tùy thuận gởi tạm thân này nơi cõi trần, xót thương cho những người ở trọ mà tận lực đưa họ đến bến bờ, đó là “Phần chứng lữ”.
Căn nhà cũ mục nát này, thuộc về một người, ta thường ở trong đó thuyết pháp giáo hóa.
Khi lửa lớn đốt cháy, mà cõi của ta vẫn được yên ổn, đó là “Cứu cánh lữ”. Nếu không hiểu rõ được nghĩa này, thì nhận lầm quán trọ, nhà nghỉ là quê hương, mọi sự mong cầu đều là việc trong nhà lửa.
Có những người sợ chỗ ở tạm này quá nhiều khổ nạn, nên vội nhập diệt mà không trở lại độ sinh, khiến cho sáu đường đều mờ mịt, bốn loài[5] không biết cậy nhờ vào đâu? Nếu như vậy thì không đúng với nghĩa ở trọ này. Thế thì ngày hôm nay cư sĩ nên lấy cõi An Dưỡng làm chốn trở về, chớ nên vĩnh viễn là lữ khách ở cõi Ta-bà này. Nếu hoa nở thấy Phật, chứng đạt chân thường, nên thương xót Ta-bà, trở lại chỗ trọ, hộ trì chúng bạn, dẫn dắt người mê. Lại phân thân ứng hiện các phương, qua lại giáo hóa ba cõi mà không hề mệt mỏi. Đây chính là Lữ khách rốt ráo. Như thế mới mong không luống uổng ý lập tên tự Lữ Tam của cư sĩ.
*
[1] Ngũ trụ trần lao: hay còn gọi là ngũ trụ phiền não, tức là các phiền não kiến hoặc và vô minh hoặc, gồm có: 1. Kiến nhất xứ trụ địa (kiến hoặc); 2. Dục ái trụ địa; 3. Sắc ái trụ địa; 4. Hữu ái trụ địa; 5. Vô minh trụ địa. Thuyết này phát xuất từ kinh Thắng Man. Năm thứ phiền não này là chỗ nương tựa, cư trú của tất cả phiền não, lại hay phát sinh ra phiền não, nên gọi là trụ địa.
[2] Tứ thiền: bốn loại thiền định căn bản dùng để đối trị hoặc nghiệp và sinh ra các công đức, là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
[3] Tứ không: 1. Không vô biên xứ; 2. Thức vô biên xứ; Vô sở hữu xứ; Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.
[4] Bốn châu: bốn đại châu theo thế giới quan của người Ấn Độ thời xưa.
Người Ấn Độ ngày xưa cho rằng trong lớp biển mặn giữa bảy lớp núi vàng và núi Đại Thiết Vi ở bốn phía núi Tu-di có bốn đại châu. Theo Đại Đường Tây Vức Ký 1, Câu-xá Luận Quang Ký 8 thì Tứ châu là:
1. Đông Thắng Thần châu (Purva videha): vì người dân ở châu này có thân hình thù thắng nên gọi là Thắng Thân. Địa hình châu này giống như hình bán nguyệt, khuôn mặt con người cũng có hình bán nguyệt.
2.
3. Tây Ngưu Hóa châu (Apara godaniya, xưa gọi là Tây Cù-da-ni): do dùng trâu bò để trao đổi mua bán nên có tên là Tây Ngưu Hóa châu. Địa hình châu này giống như mặt trăng tròn, mặt người cũng thế.
4. Bắc Câu-lô châu (Uttara kuru, xưa gọi là Bắc Uất-đơn-việt): Câu-lô nghĩa là thắng xứ, vì đất đai cõi này thù thắng hơn ba châu nói trên nên được gọi là Bắc Câu-lô châu. Địa hình châu này có hình vuông, giống như cái ao vuông, khuôn mặt người cũng thế.
Mặt trời, mặt trăng, các sao nhiễu quanh lưng chừng núi Tu-di, chiếu sáng Tứ thiên hạ. Bốn đại châu, mỗi châu đều có hai trung châu và năm trăm tiểu châu, bốn đại châu và tám trung châu đều có người ở, còn hai ngàn tiểu châu thì hoặc có người ở hoặc không có người ở. Quả báo ở Bắc Câu-lô châu rất thù thắng, vui nhiều khổ ít, nhưng không có Phật xuất thế, nên là một trong tám nạn. Cả bốn châu đều có ba việc đặc biệt:
-
- Đông châu: châu này rất rộng, rất lớn, rất vi diệu.
- Tây châu: nhiều trâu bò, nhiều dê, nhiều châu ngọc.
- Bắc châu: không bị lệ thuộc, không có ngã sở, sống lâu ngàn năm.
[5] Bốn loài: chỉ cho bốn loài hữu tình trong sáu đường thuộc ba cõi, gồm:
1. Noãn sinh (Andajayoni): loài sinh ra từ trứng, như ngỗng, khổng tước, gà, rắn, cá, kiến…
2. Thai sinh (Jalabuja, còn gọi Phúc sinh): loài sinh ra từ thai mẹ, như người, voi, ngựa, trâu, bò, heo, dê, lừa…
3. Thấp sinh (Samsedaja, còn gọi Nhân duyên, Hàn nhiệt hòa hợp sinh): loài sinh ra từ khí ẩm ướt ở những nơi ẩm thấp, như các loài thiêu thân, muỗi, sâu, mối mòng, sâu mè…
4. Hóa sinh (Opapatika): loài không chỗ nương tựa bỗng nhiên sinh ra gọi là Hóa sinh, như các loài hữu tình: chư thiên, địa ngục, trung hữu, đều do nghiệp lực đời quá khứ mà hóa sinh.
Trong Tứ sinh nói trên thì chúng sinh hóa sinh là nhiều nhất.






